MIÊN MAN THEO DÒNG HUYỀN THOẠI
Tùy Bút: DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI
Có thể nói Bạch Đằng giang là một miền quê của sông nước trăng thơ.
Mỗi tấc đất tấc nước như nhuốm đầy sắc màu huyền thoại và cổ tích.
Có phải vì quá yêu mảnh đất này chăng mà trong tôi cứ mãi một niềm đau đáu: Bạch Đằng giang là một miền quê của sông nước trăng thơ. Mỗi tấc đất tấc nước nhuốm đầy sắc màu huyền thoại và cổ tích. Tất cả đã ủ men, lắng sâu thành trầm tích và trưng cất trong tôi thành xạ hương…
Một đêm trăng sau rằm tháng Tám. Bầu trời sáng trong, tinh khiết bởi ánh sáng ngọc bích của vầng trăng viên mãn. Trên con thuyền nan nhỏ bé, bồng bềnh trong thế giới nguyệt thanh, tôi thả nhẹ mái chèo bơi từ đầu ngọn sông Bạch Đằng, từ khúc Sông Khoai về qua Đồng Bái. Sóng nước lăn tăn dát muôn vàn vẩy cá lúc vàng lúc bạc hai bên mạn thuyền. Con thuyền lướt nhẹ như một đám mây trên bức khảm trai óng ánh, dưới bóng trăng mơn man gió cửa biển thổi vào các cánh đồng bắt đầu thoảng hương mùa lúa mới. Đến đoạn sông Bạch Đằng mở cửa sóng trắng xóa, bỗng màn sương buông xuống một bức mành lớn. Bầu trời đang vằng vặc trăng chợt chuyển màu. Cảnh vật lu đi như trong một nồi hơi xông lên mịt mờ khói sóng.
Một lúc lâu, màn sương lại như một chiếc màn mỏng từ từ mở, trong suốt, lộ ra một tấm phông lớn với một cây đa cổ thụ trùm tán lên một mái lều nhỏ lợp bằng cỏ khô. Tôi dụi mắt nhìn kỹ. Không phải cây đa. Đấy là một cây Quếch đại thụ. Bóng cây Quếch tỏa rợp xung quanh. Dưới một góc tán cây, thấy rõ một bến đò với một con đò và mấy con thuyền nhỏ bằng gỗ, một loại thuyền dân quê tôi đóng bằng gỗ táu, thường gọi thuyền lẵng. Thuyền lẵng dùng bơi trên sông nhẹ như con thoi chạy trong khung cửi, thoăn thoắt lách qua các bụi cây trong rừng rậm bãi triều.
Cách đây hơn 7 thế kỷ, nơi đây là bãi chiến trường của vua tôi, tướng sĩ, dân binh nhà Trần đánh thắng quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng.
Trong túp lều cỏ, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và các tướng sĩ Dã Tượng, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão… đang ngồi trên những gốc cây đẽo phẳng mặt làm ghế, nghe một thôn nữ bán hàng nước kể chuyện. Hình như túp lều cỏ mọc lên từ lâu lắm của một gia đình chài lưới ven sông. Cha mẹ cô chắc đang quăng chài thả lưới ở khúc sông nào đó. Thỉnh thoảng tiếng thanh tre gọi cá gõ vào ống vầu lại lanh canh vọng vào đêm vắng. Cô gái thì ngồi bên chiếc chõng tre với ấm giỏ ủ nước chè vối bán cho khách đợi qua đò. Câu chuyện của họ đang vào đoạn giữa chừng. Gương mặt Hưng Đạo vương rạng rỡ hẳn lên: -Nàng có thể kể cho chúng ta biết về con nước thủy triều vùng cửa sông bến đò Rừng này? Thôn nữ cười đôn hậu, nhìn mọi người trong ánh mắt long lanh, tươi rói, rồi quệt nhẹ làn môi nhai trầu đỏ thắm:
-Dạ! Thưa Đại vương cùng các tráng sĩ! Tháng tám trâu bò ra. Tháng ba trâu bò về. Cứ thế, lựa theo con nước mà bày trận đồ cắm cọc trên sông… Cư dân vùng này thường nhằm những lúc con nước như vậy, dòng sông hẹp và nông… để thả lưới quăng chài. Cá tôm sẽ trôi tuột vào cái thón lưới, không thoát được ra ngoài.
Nhìn ra dòng sông tràn ngập ánh trăng, Hưng Đạo vương cười lớn, rất hài lòng. Tiếng cười rung cả vòm cây, xao động cả bến nước dưới chân: -Hay lắm! Hay lắm! Thời cơ thắng giặc là đây! Rồi Vương cất giọng ngâm nga một câu thơ:
-Thế nước năm nay đánh giặc nhàn…
Quả vậy, chỉ trong một ngày 8-3 năm Mậu Tý 1288, trận đồ cọc lim và hỏa công trên sông Bạch Đằng đã diễn ra như một trận bão lớn. Trần Hưng đạo oai phong lẫm liệt rút đốc gươm chỉ huy trên chiến thuyền lớn. Thượng lưu đánh xuống, hạ lưu đánh lên, hai bên bờ xông ra, hàng nghìn thuyền con, bè mảng chất rơm đốt lửa của tướng sĩ, dân binh dồn hàng nghìn chiến thuyền đạo thủy binh Nguyên Mông thiện chiến vào chiếc bẫy kinh hoàng của những chiếc cọc lim nhọn sắc. Chúng đã bị quân dân nhà Trần đánh tơi bời, tan tác mộng xâm lăng.
Sau chiến thắng, Hưng Đạo vương quay lại bến đò Rừng tìm người thôn nữ để đền lộc nước. Nhưng không thấy nàng đâu cả. Trên bến đò chỉ còn túp lều cỏ dưới bóng cây quếch. Dân trong vùng cũng không biết nàng là ai. Người ta bảo đấy là một bà tiên cứu nhân độ thế đã bay về trời hoặc hóa vào thiên hạ. Cảm động và biết ơn người đàn bà bến đò Rừng, cùng với việc phong cho dân trại An Hưng bốn chữ: “An Hưng Nghĩa Dân” vua Trần đã phong bà là “Thiên Hương Ngọc Trinh công chúa”, rồi “Mẫu Nghi Thiên Hạ”. Theo dòng chảy thời gian, dân gian về sau lập đền thờ thường gọi bà hàng nước bến đò Rừng là đức Vua Bà.
Tấm màn sương khép lại trong làn hương thơm ngát và khói sóng sông Bạch Đằng tỏa trắng dưới trăng. Bên tai tôi vẫn còn dư âm câu chuyện trong túp lều cỏ. Nếu không có Lịch thủy triều ngày ấy của bà hàng nước, không biết dòng sông này có nổi danh, đầy ắp sử thi và ánh trăng mộng mỵ thế kia không ?
***
Chiếc thuyền nan lại như chiếc lá bay đưa tôi theo dòng thủy triều, dạt sang sông Chanh về phía đông tới một vùng non xanh nước biếc. Tôi nhận ra đây là xứ đảo Hoàng Tân (dân gian gọi Hoàng Lỗ). Vùng đảo này với những dãy núi đá vôi như một đoạn đuôi rồng của vịnh Hạ Long quẫy về phía sông Chanh, sông Bạch Đằng. Tôi gặp những tốp cư dân đảo, tốp đang lội bắt cáy còng, cua ốc trên các bãi triều, tốp đang săn muông thú ven vách đá… Đấy là những người Việt cổ, đầu họ đội mũ kết bằng lá rừng, trên cài một chiếc lông đuôi chim rất dài. Bước chân họ lún trên mặt láng phù sa…
Từ xưa cư dân Hoàng Lỗ đã sinh sống bằng các nghề biển đánh bắt, khai thác thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi. Ở đây có khoai lim dây tím, vỏ tím, ruột trắng và bở trong. Khoai lim Hoàng Tân sinh củ trong lòng đất cát vàng, để lâu tiết nhiều mật, luộc ăn thơm ngọt như được ngào trộn với mật ong. Trên đảo có di tích Đầu Rằm, là nơi người Việt cổ sinh sống; có non nước Bình Hương sơn thủy hữu tình. Bình Hương có hòn núi Bình Hương, hòn Ông Sư Bà Vãi, giống hình ông sư và bà vãi đang theo nhau lội trên mặt nước long lanh. Trong gió, tôi nghe vọng lên câu chuyện kể từ vách đá:
Thuở xưa có một ông sư và một bà vãi cùng tu trong một ngôi chùa. Nhưng vì bọn cướp biển luôn vào cướp bóc, phá nhiễu chốn cửa thiền, nhà chùa định dời sang doi đất bên kia sông để lập chùa mới. Hôm ấy, bà vãi đội thúng đựng kinh sách lên đầu đi trước. Ông sư bê chiếc bình hương theo sau... Khi qua sông, họ dò dẫm theo các triền nông nước để lội. Đang lội, không ngờ gặp ngay chỗ n¬ước sâu, bà vãi vội vàng tốc váy lên rõ cao, kẻo ướt. Cặp đùi non chợt lộ ra trắng nõn nà trên mặt nước, ngay trước mắt ông sư. Bao nhiêu ngày tháng trong chùa cùng nhau tụng kinh gõ mõ không sao. Giờ đây, ông sư chợt sững lại, ngất lặng hồi lâu. Bỗng ông vấp phải hòn đá ngầm dưới sông, ngã chúi. Chiếc bình hương văng tòm xuống nước. Vừa lúc ấy, Phật bà Quan Âm hiện lên trỏ mặt sư “Nhà ngươi đã đánh mất chính quả!” Hai người chết đứng giữa dòng và ngay sau đó biến thành hòn Ông Sư Bà Vãi. Chiếc bình hương kia mọc lên hòn Bình Hương!...
Bây giờ, hòn Bình Hương và hòn Ông Sư Bà Vãi vẫn đứng đó lặng lẽ bên nhau trên sông nước. Nhưng hầu như loại khoai lim vỏ tím lòng trong của đất cát vàng Hoàng Tân thì… không còn nữa!
***
Trăng lên đỉnh đầu. Cửa sông Bạch Đằng chợt xuất hiện một ngọn đuốc cháy rùng rực tựa một hòn lửa trôi trong không gian âm âm sóng vỗ. Chiếc thuyền nan của tôi lại nhẹ nhàng chèo theo. Đang phân vân không biết rẽ ngả nào, thì một ông già cao lớn tới mười thước, râu tóc trắng xóa, dáng vẻ phương trượng, phong trần… quăng một cuộn dây cũng trắng như cước vào tay tôi. Tôi vội vàng bắt lấy. Lập tức chiếc thuyền bay vun vút rồi neo vào một gốc cây. Sau một lúc trấn tĩnh, tôi chắp tay cúi lạy: -Kính chào Thần Sông! Một tiếng vang trầm đục loang trên mặt sóng: -Chào nhà ngươi! Ta là Thần Hồ Mạch! Nhân đây, ta kể lại cho nhà ngươi biết:
Hồ Mạch ở phía bắc làng Yên Đông, là nơi đầu tiên dừng chân của tập đoàn 17 người ở Thăng Long đi mở đất. Vào quãng năm 1434, họ rời bỏ kinh thành, rủ nhau xuôi thuyền qua sông Hồng, đến cửa biển sông Bạch Đằng trấn An Bang lập nghiệp... Trong một đêm mưa, chợt nghe tiếng ếch kêu giữa rừng sú vẹt vọng tới. Họ lắng nghe, đoán chừng nơi có ếch kêu là nơi có nước ngọt. Rẽ rừng, lội qua bãi lầy, lên tới một gò cao, mọi người vạch cỏ lau gặp một vũng nước sâu hiện ra. Vục tay xuống uống thử, thấy nước ngọt chẳng kém gì nước mưa, cả đoàn mừng reo sung sướng. Sáng hôm sau, thức dậy trong ánh bình minh rạng rỡ, nhìn ra bốn phía, thấy gò đất cao nổi hẳn giữa rừng sú vẹt mênh mông. Sau lưng, là sông Bạch Đằng và dãy núi Tràng Kênh, Yên Tử. Trước mặt, là vịnh xanh đá biếc Hạ Long. Chạy về phía tây nam là biển cả dạt dào sóng vỗ cửa Nam Triệu. Trên gò, mạch nước vẫn ứa ra, cạn lại đầy. Mọi người càng lấy làm lạ. Họ bàn nhau ở lại.. Những túp nhà nhỏ đầu tiên mọc lên. Vũng nước được đào rộng ra, sâu thêm thành hồ. Hồ được đắp bờ cao giữ gìn nguồn nước mạch quý hiếm. Họ tìm kế sinh nhai ngay từ biển và rừng…
Thời gian trôi qua, Hồ Mạch vẫn tồn tại giữa vùng ngập mặn. Rừng bãi được khai mở lấn biển khơi, tôn trúc thành vòng đê. Vòng đê mỗi ngày, mỗi đời người thêm rộng dần, thách thức trước biển cả, gió bão. Nhiều mái nhà bên nhau thành hương thôn, làng xã. Bách mẫu thượng điền, dân cày cấy tại đây. Theo đó, từng vạt lúa vàng ghép nên thảm lớn, nên cánh đồng bao la. Nước ngọt Hồ Mạch đã đưa bao thế hệ con cháu các vị Tiên Công vượt qua muôn vàn khó khăn, cực nhọc để ngày nay có được một quê hương trong chu vi 34 km đê biển đạt tầm cao tới cốt 5 vững chãi trên cửa Bạch Đằng. Khởi thủy, lòng Hồ Mạch sâu hai, ba tầm đầu với. Trên bờ, dân dựng một ngôi miếu thờ thần Hồ Mạch. Thần Hồ Mạch ta đêm đêm dưới hồ hiện lên, cầm đuốc lớn dạo quanh hồ, rồi lướt soi qua các cánh đồng, ra vòng đê tuần tra bờ cõi. Tới lúc tiếng gà trong làng gáy vang, ta mới trở về hồ. Năm nào ta hay xuất hiện là năm đó mùa vụ nông ngư tươi tốt, bội thu, muôn nhà mạnh khoẻ, vạn vật sinh sôi. Trong miếu có bàn thờ linh thiêng nghi ngút khói hương, có bức đại tự “Phong Lưu cổ hồ”, có câu đối ca ngợi công đức người khai canh lập nghiệp. Những năm 1950-1955, vẫn còn thấy ngôi miếu ẩn dưới rặng cây rậm rạp quanh hồ. Cán bộ Việt Minh nằm vùng thường vào đó trú ẩn, hoạt động bí mật. Về sau do thời gian và con người quên lãng, miếu Hồ Mạch đổ nát, dần dần mất hẳn nền móng cùng dấu tích. Bờ hồ bị chặt phá cây cối, bị vạc xén đất san xuống ruộng cấy. Đáy hồ bồi nông dần, mùa khô hạn nẻ toác chân chim. Nay hồ đang bị lấn đất, thu hẹp, lẫn vào diện tích lúa màu. Phải đến tận nơi mới phát hiện ra hồ chỉ còn là một khoảng nước nông choèn. Khoảng nước ấy là di tích còn lại của Hồ Mạch. Khoảng nước ấy cũng như ruột ta bị cắt xén, loại bỏ. Ta đau lắm thay!
Nghe vậy, đôi chân tôi bủn rủn, sụp xuống như một kẻ tội đồ. Toàn thân ướt đẫm mồ hôi. Nhìn khoảng hồ cạn, lòng tôi se thắt lại như chính ruột mình vừa bị cắt. Hồ Mạch, một điểm khởi thuỷ có ý nghĩa lịch sử mở đầu một cuộc chinh phục biển cả và bãi triều. Hồ Mạch, mốc thời gian đầu tiên lập đất mở cõi của các vị Tiên Công Hà Nam, nơi khẳng định truyền thống khai hoang, lấn biển, lập làng của cư dân một vùng đất. Ghi nhớ sự tích này, nhiều dòng họ như họ Vũ xã Phong Cốc, họ Vũ làng Yên Đông xã Yên Hải đã chạm khắc trên cửa võng các gian thờ hình chú ếch với hàm ý nhắc nhở hậu thế “uống nước nhớ nguồn” tri ân công đức người xưa.
Vậy mà…
***
Đang trên đà xuôi chèo mát mái qua Bến Ngự-Sông Chanh, khi đến ghềnh đá Cống Vông, con thuyền của tôi như có người vít lại và loay hoay thế nào lại mắc vào chân cồn cây bù lù (cột đèn đường sông). Chỗ này nước vật chân cồn, dội rất mạnh thành những vùng xoáy như đám trẻ con chơi trò đuổi bắt nhau. Hình như có tiếng hát theo một làn điệu dân ca gì đó lẫn trong ánh trăng? Tôi cố lọc trong tiếng gió reo và nước chảy. Một điệu ca trù? Một khúc hát văn! Tiếng đàn nguyệt, sáo nhị, tiếng sênh phách đan nhịp, lúc rộn ràng, thao thiết, lúc nghẹn ngào, tắt lịm… Bỗng có bóng ba người đàn bà xiêm y ướt sũng màu trắng muốt, từ từ nhô khỏi mặt nước như ba đóa hoa sen vửa nở. Làn nước từ thân thể ướt sũng rớt xuống lấp lánh những giọt trăng. Họ cất cánh bay lên bờ đê phía Hà Nam, rồi vào một ngôi miếu nhỏ ẩn dưới tán những cây na dại cổ thụ... Tôi giật mình nhớ tới sự tích…
Sau chiến thắng Bạch Đằng, các cư dân thành Thăng Long tiếp tục đi mở đất lập làng. Khi đắp đê đảo Hà Nam đến giai đoạn hạp long Cửa Cái ở phía bắc thì gặp phải đoạn nước sâu chảy như thác đổ. Đê cứ đắp nên lại vỡ. Người ta phải đánh đắm nhiều thuyền đá, bè gỗ xuống lòng cái vẫn không sao lấp được. Các bô lão bèn bàn nhau lên kinh thành mời ca nương về múa hát góp vui, động viên dân công, mong quên đi gian khổ để hợp long cửa cái. Song ngày nọ tháng kia vẫn bó tay.
Cả làng đang băn khoăn cạn lương, hết kế, thì có lão thầy bói ở đâu đến nói: “Phải lập đàn ca xướng, đàn ngọt hát hay bên cửa Cái, chờ khi nước rút, đánh sập đàn chòi, hiến giai nhân ả đào cho Thủy thần, mới có cơ hồ thành sự…” Chức sắc, dân làng nghe vậy, cho là điềm giời, liền cho dựng chòi ca, lập đàn trên cửa cái. Nhằm nửa đêm, định bí mật lừa rút đàn chòi cho ả đào ngã xuống. Nhưng mưu sự chưa kịp ra tay thì có một cô đào tên gọi Ả Vông đang ngồi trong kíp hát bỗng đứng dậy vái ba lễ: “Xin thưa dân làng! Không cần phải thế! Mọi người chờ đó. Hát xong sẽ hay!” Quả nhiên, vừa lúc nước rặc mạnh, kíp hát chưa dứt câu cuối, ba đào nương đã cầm tay nhau bất ngờ nhảy xuống vực sâu. Nước chảy cuồn cuộn xoáy nhanh họ ra sông. Dân làng ai cũng sửng sốt. Chức sắc liền đốc dân nhất loạt ném đất đã sắp sẵn xuống cửa Cái. Chỉ chớp mắt, cửa Cái được lấp kín. Ba đào nương đã dũng cảm hiến thân mình giúp dân làng ngăn dòng nước chảy. Nhờ đó mới hạp long được cửa cái này. Để tưởng nhớ công ơn, dân làng lập miếu thờ ngay tại chân đê nơi họ xả thân. Cái đó, gọi là Cái Vông. Người đời sau gọi là Cống Vông (thuộc xã Cẩm La). Miếu đó là miếu thờ Thủy cung Thánh Mẫu rất thiêng. Thuyền vận tải qua đây và thuyền nghề các làng trước và sau khi đi sông biển về thường lên miếu thắp hương, cầu nguyện, lễ tạ. Cho đến nay ngôi miếu vẫn còn cùng những câu thơ truyền miệng:
…Cái sâu nước chảy trong xanh
Ả Vông lấp cái, mới thành đê to
Dân quê hai xóm Cái–Đò
Nhớ ơn lập miếu phụng thờ sớm hôm…
Tiếc thay trận vỡ đê năm Ất Mùi 1955 đã cuốn trôi mất các đồ thờ tự, tế khí và miếu thờ. Nhưng trước sự linh liêng của linh hồn những người đàn bà ca kỹ trâm oanh và dũng cảm, dân quanh vùng và khách thập phương vẫn cố gắng tu tạo, xây dựng lại ngôi miếu để hương khói nghìn thu.
***
Vẫn trên chiếc thuyền nan nhỏ bé, tôi vòng qua Cống Quỳnh, Cống Lái, lượn ra Cái Tráp, Cát Hải, Cát Bà… Thủy triều đang lên rào rạt. Tôi lại chèo xuôi, nhưng vòng ngược lại, về phía sông Rừng. Một bên là đầm Nhà Mạc, một bên là đảo Hà Nam. Chiếc thuyền tôi như chiếc lá trúc do tay một họa sĩ thả trên bức tranh lụa. Từ bức tranh lụa của sông nước mờ ảo ấy vọng lên tiếng hò biển của đôi trai gái làng nào đó: Bạch Đằng nước chảy trôi nghiêng. Thương em đến nát mạn thuyền vẫn thương!... Chao ôi! Người sông nước thương nhau, yêu nhau đến thế là cùng!
Thuyền cập vào một bến mạn tây làng đảo. Ngước nhìn lên, mái đình Hải Yên tựa một cánh cung dàn cong ngay trước mặt. Bên cạnh đình là một ngôi đền nhỏ còn thơm ngát hương trầm. Đền thờ Bà Chúa Ngóe làng Hải Yến! Thắp một nén hương, vái lạy, tôi lặng nghe cõi lòng dâng lên một cảm xúc khó tả. Đêm trăng thanh tĩnh ngân tiếng chuông đồng như những giọt sương ướt đằm rơi xuống. Tấm màn sương lại từ từ mở ra… Một quầng ánh sáng hắt lên, chiếu rọi vào không gian…
Thời Hậu Lê… Trên thuyền Ngự rời kinh thành Thăng Long, vua Lê Thánh Tông (1460- 1497) đi tuần thú Biển Đông qua vùng đảo Tuần Châu (vịnh Hạ Long). Thuyền Ngự đang rong ruổi, chợt nghe trong gió văng vẳng tiếng một ngư¬ời con gái hát rằng: Tay cầm bán nguyệt xênh xang. Hàng trăm quân t¬ướng phải hàng chị đây!
Vua lấy làm lạ nơi đảo hoang sao lại có ng¬ười hát hay đến thế, bèn sai cận thần đốc thuyền tìm theo tiếng hát. Tới sư¬ờn núi thấy một cô gái vừa cắt cỏ vừa hát say mê trong một làn điệu dân ca. Bá quan lên núi, dẫn người con gái vừa hát xuống thuyền. Cô gái e thẹn cúi đầu. Nhà vua hỏi: -Này cô gái! Cô tên là gì? Hãy cắt nghĩa ta nghe câu hát mà cô vừa hát? Cô gái ngẩng lên lau mồ hôi, lộ khuôn mặt sạm nắng, ánh mắt long lanh, nhưng mái tóc lại tỏa lan mùi h¬ương thơm ngát:
-Dạ thưa Đức vua! Con sinh ra ở vùng đảo này. Cha mẹ làm nghề chài lưới trên vịnh Hạ Long. Khi con chào đời giữa mênh mông biển cả và muôn trùng đảo biếc, lo trẻ sơ sinh khó bề sống ổn, nên cha mẹ đặt tên con là Ngóe cho dễ nuôi. Xin đức vua đừng chê cười con gái làng chài xấu xí... Và cô giải nghĩa câu hát: -Chiếc liềm con cầm đây tựa vầng trăng non, cắt vào đám cỏ. Cỏ lớn là tướng, cỏ bé là quân, tất cả đều ngã rạp dưới tay liềm. Phải cắt trừ cỏ thì đất mới yên. Từ đó con mới có chỗ cày cuốc để gieo trồng lúa ngô, khoai sắn...
Vô cùng cảm phục tài trí thông minh của cô gái, nhà vua bèn sai ban thưởng cho lụa là, châu báu. Nàng Ngóe nhất mực từ chối. Vua tỏ ý muốn đưa nàng về cung phong nhận làm công chúa và hứa sẽ chiều chuộng theo mọi ý của nàng. Nhưng nàng chỉ tâu xin vua cha một điều nhỏ: -Dạ! Thưa đức vua vạn tuế! Con chỉ muốn cầu xin đức vua một mảnh đất, bằng cách thả một chiếc dải yếm xuống dòng sông. Nếu dải yếm trôi và dừng lại ở đâu thì dân làng của con được lập nghiệp ở đó làm nơi cấy cày, sinh sống.
Đức vua thuận ý. Quả nhiên, lúc quay về, thuyền Ngự qua cửa sông Bạch Đằng, nàng Ngóe thả dải yếm lên trời xanh. Dải yếm bay nhẹ nhàng trong gió, rồi từ từ rơi xuống mặt sông, trôi một lúc và dạt vào mạn bãi triều phía Tây đảo Hà Nam... Dân làng của cô gái được đất vua ban. Từ đó làng được gọi cái tên Dải Yếm thật nôm na dân dã.
Và lạ thay con cháu bà chúa Ngóe các đời sau lại sinh ra rất nhiều con gái xinh đẹp và có giọng hát hay. Làng còn đ¬ược ví là đất Công Chúa. Sau này làng Dải Yếm là làng Hải Triều, rồi Hải Yến thuộc xã Yên Hải ngày nay xuất phát từ sự tích “Bà Chúa Ngóe” còn tương truyền trong dân gian. Đền thờ Bà chúa Ngóe vừa được tu tạo lại, mới khánh thành vào dịp cuối thu năm Tân Mão!
***
Chiếc thuyền nhỏ lại đưa tôi về bến sông Đình Cốc, một ngôi đình cổ lớn và đẹp nhất còn tồn tại đến nay, trong 9 ngôi đình cổ ở Hà Nam-Yên Hưng. Khác với các ngôi đình khác thờ nhân thần, danh tướng, đình Cốc thờ Thần Nông và “Tứ vị Thánh Nương” làm Thành Hoàng làng.
Ngày xưa cuộc sống chủ yếu trông vào thiên nhiên. Trong quan niệm của người nông dân nơi đây, thiên nhiên là một đấng tạo hoá cao siêu ban phát bình yên và tài lộc cho con người. Mỗi khi đem hạt giống ra ngâm gieo, cấy cây lúa xuống ruộng, kéo con thuyền ra sông biển… đều muốn trình báo, cầu mong Thần Nông và các vị Thánh thần phù hộ trời yên bể lặng, xóm làng yên vui. Khi bưng bát cơm mới, hái chùm quả, bắt mẻ cá tôm đầu mùa… người ta lại thành tâm làm lễ dâng cúng tạ ơn. Chìm trong tình cảnh hằng năm nắng hạn triền miên, ruộng đồng khô nẻ không có nước cho sản xuất và đời sống, vùng Hà Nam luôn luôn bị mất mùa, đói kém. Đời sống của cư dân rất đỗi khó khăn. Không có cách nào khác, chức sắc kỳ hào cùng dân các làng lại đổ về sân đình Cốc lập đàn “đảo vũ” tế lễ Trời Đất, cầu xin Thần Nông cho mưa nắng thuận hoà, phong đăng hỏa cốc...
“Tứ vị Thánh nương” gồm tượng Thánh Mẫu và bài vị 3 bà Thánh Nương (trước đây thờ ở miếu Cốc ở phía tây làng cách đình khoảng 500 mét) về đình thờ 3 ngày 3 đêm rồi mới rước trở lại. Đình Cốc thờ cúng như vậy là do sự tồn tại của miếu Cốc một thời bị dột nát, của cuộc cải tạo văn hoá những năm đầu 1970. Thời đó, để bảo toàn tâm linh, dân làng đã đem các tượng bụt, trong đó có “Tứ vị Thánh Nương”, đồ tế khí, bia đá các đền chùa, miếu mạo về thờ tập trung trong Đình Cốc. Cúng lễ lâu rồi, Đình Cốc thành ra có tục vừa thờ Thần Nông vừa thờ cả “Tứ vị Thánh Nương”.
Theo thần phả và truyền thuyết, Thánh Mẫu tên thật là Kiền Nương, họ Triệu, sinh ngày 1-3, con một gia đình ngư dân trên cửa biển Kiền Hải, Châu Hoan (Cửa Cờn, Quỳnh Lưu, Nghệ An). Cha là Triệu Quang Bình, mẹ là Dương Thị Phấn. Một đêm vợ chồng chèo thuyền đánh cá trên biển, bà Phấn mơ thấy mình nuốt mặt trăng vào bụng. Sau, bà sinh hạ được một cô con gái, đặt tên là Kiền Nương. Kiền Nương lớn lên là một tuyệt sắc giai nhân, được đưa về Trung Quốc vào cung làm Hoàng Hậu của vua Tống Đế Bính (1279-1284). Trong một đêm đi dạo hồ sen về, Hoàng hậu nằm mộng thấy gặp một Thiện nhân đưa cho một cành đào. Cành đào chia làm hai phiến, một phiến hoa sen hồng, một phiến hoa hạnh hồng. Mãn kỳ thai nghẽn, bà sinh một cái bọc. Cái bọc nở ra hai người con gái. Thấy hai công chúa sinh đôi xinh đẹp như búp sen hồng lại nhằm vào ngày rằm tháng tám, nên vua đặt tên là Hồng Liên và Hồng Hạnh. Khi giặc Nguyên-Minh đánh chiếm nhà Tống, vua Tống Đế Bính vội sai cận thần đưa Hoàng hậu cùng hai Công chúa sinh đôi và một thị nữ xuống thuyền chạy loạn về phương Nam. Đoàn thuyền vượt biển đến Nghệ An bỗng gặp phải trận phong ba lớn đã bị đắm. Chỉ còn Hoàng hậu, hai công chúa và thị nữ sống sót, dạt vào một ngôi chùa bên cửa bể Kiền Hải, được các nhà sư cứu thoát và che chở. Sau đó được tin vua Tống Đế Bính tử trận, nhà Tống mất, Hoàng hậu nhìn về phương Bắc mà than rằng: “Sống không báo trung được với nước, không trả được thù nhà thì ta chết còn hơn!” Hoàng hậu, hai công chúa và thị nữ cùng quyên sinh vào một ngày cuối năm (24 tháng Chạp). Dân địa phương vô cùng cảm phục đã lập miếu thờ. Khi vua Trần Anh Tông đi bình Xiêm, vua Lê Thánh Tông đi dẹp rợ Hồ qua đây từng gặp sóng to gió lớn, không tiến quân được. Các vua vị nào cũng nằm mộng thấy bốn người đàn bà mặc triều phục, tay cầm kiếm xin theo hầu giúp nước. Thêm nữa lại nghe dân bản xứ kể chuyện, các vua đều lấy làm lạ và đều cùng làm lễ cầu nguyện nếu dẹp được giặc, xong sẽ trở về trùng tu lại miếu và phong sắc. Y rằng thắng trận, các vua đều làm đúng lời hứa, phong sắc “Đại càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương” cho họ và truyền trong dân gian thờ phụng coi như Thượng đẳng thần…
Các lão làng còn kể: Cách đây hơn 170 năm, một nhóm người làng đi đồn trú Nghệ An qua cửa Cờn thấy tích thiêng của ngôi đền và khí tiết lẫm liệt của bốn vị Thánh nương, đã xin chân hương về quê tôn nhang, tạc tượng, lập bài vị thờ trong miếu Cốc. “Tứ vị Thánh nương” xứ Nghệ từ một đế chế Trung hoa đã bước vào những trang Thần phả của làng. Đủ thấy tinh thần nhân loại nhân văn của người xưa vùng đất này nhân ái đến nhường nào! Không thể biên giới, đế vương nào cương tỏa.
***
Còn đang miên man ngắm nhìn mũi đao cong một vành trăng khuyết trên mái đình Cốc, tôi chợt thấy cánh cửa đình chạm khắc cảnh rồng phượng chan hòa cùng trời mây hoa cỏ từ từ mở rộng ra. Ánh sáng ngũ sắc trong đình tỏa lung linh rực rỡ theo dàn nhạc nhị huyền bát âm ngân nga réo rắt như nước chảy mây trôi. Bốn người đàn bà xiêm y rực rỡ trên ngai bước xuống, mỉm cười. Nụ cười như hoa sen nở. Họ cầm kiếm múa những đường uyển chuyển, rồi nhún chân, xòe hai cánh tay bay lên, nhập vào không gian xa ngái.
Tôi choàng tỉnh. Ôi! Thực hay mơ? Tiếng chim ngoài vườn hót ríu ran mang ánh nắng ban mai và mùi hương táo chín vào cửa sổ. Thì ra tôi vừa bơi con thuyền nan nhỏ bé rong ruổi một giấc mơ kỳ diệu! Giấc mơ còn dư ba lớp lớp triều dâng và lóng lánh ánh trăng. Tất cả xâu chuỗi lại một vòng ngọc khoác quanh ngực tôi. Tôi ngộ ra một điều: Không chỉ trong đời thường hằng ngày ta có được những gì khát vọng và gặt hái từ hiện thực, hạnh phúc nằm ngay trong những giấc mơ, cất cánh từ những truyền thuyết, huyền thoại và cổ tích. Tất cả đang sinh sôi, vận động trong dòng chảy Thời Gian! Tất cả vẫn tiếp tục khép mở trên sân khấu Nhân Gian!
Có phải vì quá yêu mảnh đất này chăng mà trong tôi cứ mãi một niềm đau đáu: Bạch Đằng giang là một miền quê của sông nước trăng thơ. Mỗi tấc đất tấc nước nhuốm đầy sắc màu huyền thoại và cổ tích. Tất cả đã ủ men, lắng sâu thành trầm tích và trưng cất trong tôi thành xạ hương…
11-2011
Tùy Bút: DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI
| SÔNG BẠCH ĐẰNG |
Mỗi tấc đất tấc nước như nhuốm đầy sắc màu huyền thoại và cổ tích.
Có phải vì quá yêu mảnh đất này chăng mà trong tôi cứ mãi một niềm đau đáu: Bạch Đằng giang là một miền quê của sông nước trăng thơ. Mỗi tấc đất tấc nước nhuốm đầy sắc màu huyền thoại và cổ tích. Tất cả đã ủ men, lắng sâu thành trầm tích và trưng cất trong tôi thành xạ hương…
Một đêm trăng sau rằm tháng Tám. Bầu trời sáng trong, tinh khiết bởi ánh sáng ngọc bích của vầng trăng viên mãn. Trên con thuyền nan nhỏ bé, bồng bềnh trong thế giới nguyệt thanh, tôi thả nhẹ mái chèo bơi từ đầu ngọn sông Bạch Đằng, từ khúc Sông Khoai về qua Đồng Bái. Sóng nước lăn tăn dát muôn vàn vẩy cá lúc vàng lúc bạc hai bên mạn thuyền. Con thuyền lướt nhẹ như một đám mây trên bức khảm trai óng ánh, dưới bóng trăng mơn man gió cửa biển thổi vào các cánh đồng bắt đầu thoảng hương mùa lúa mới. Đến đoạn sông Bạch Đằng mở cửa sóng trắng xóa, bỗng màn sương buông xuống một bức mành lớn. Bầu trời đang vằng vặc trăng chợt chuyển màu. Cảnh vật lu đi như trong một nồi hơi xông lên mịt mờ khói sóng.
Một lúc lâu, màn sương lại như một chiếc màn mỏng từ từ mở, trong suốt, lộ ra một tấm phông lớn với một cây đa cổ thụ trùm tán lên một mái lều nhỏ lợp bằng cỏ khô. Tôi dụi mắt nhìn kỹ. Không phải cây đa. Đấy là một cây Quếch đại thụ. Bóng cây Quếch tỏa rợp xung quanh. Dưới một góc tán cây, thấy rõ một bến đò với một con đò và mấy con thuyền nhỏ bằng gỗ, một loại thuyền dân quê tôi đóng bằng gỗ táu, thường gọi thuyền lẵng. Thuyền lẵng dùng bơi trên sông nhẹ như con thoi chạy trong khung cửi, thoăn thoắt lách qua các bụi cây trong rừng rậm bãi triều.
Cách đây hơn 7 thế kỷ, nơi đây là bãi chiến trường của vua tôi, tướng sĩ, dân binh nhà Trần đánh thắng quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng.
Trong túp lều cỏ, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và các tướng sĩ Dã Tượng, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão… đang ngồi trên những gốc cây đẽo phẳng mặt làm ghế, nghe một thôn nữ bán hàng nước kể chuyện. Hình như túp lều cỏ mọc lên từ lâu lắm của một gia đình chài lưới ven sông. Cha mẹ cô chắc đang quăng chài thả lưới ở khúc sông nào đó. Thỉnh thoảng tiếng thanh tre gọi cá gõ vào ống vầu lại lanh canh vọng vào đêm vắng. Cô gái thì ngồi bên chiếc chõng tre với ấm giỏ ủ nước chè vối bán cho khách đợi qua đò. Câu chuyện của họ đang vào đoạn giữa chừng. Gương mặt Hưng Đạo vương rạng rỡ hẳn lên: -Nàng có thể kể cho chúng ta biết về con nước thủy triều vùng cửa sông bến đò Rừng này? Thôn nữ cười đôn hậu, nhìn mọi người trong ánh mắt long lanh, tươi rói, rồi quệt nhẹ làn môi nhai trầu đỏ thắm:
-Dạ! Thưa Đại vương cùng các tráng sĩ! Tháng tám trâu bò ra. Tháng ba trâu bò về. Cứ thế, lựa theo con nước mà bày trận đồ cắm cọc trên sông… Cư dân vùng này thường nhằm những lúc con nước như vậy, dòng sông hẹp và nông… để thả lưới quăng chài. Cá tôm sẽ trôi tuột vào cái thón lưới, không thoát được ra ngoài.
Nhìn ra dòng sông tràn ngập ánh trăng, Hưng Đạo vương cười lớn, rất hài lòng. Tiếng cười rung cả vòm cây, xao động cả bến nước dưới chân: -Hay lắm! Hay lắm! Thời cơ thắng giặc là đây! Rồi Vương cất giọng ngâm nga một câu thơ:
-Thế nước năm nay đánh giặc nhàn…
Quả vậy, chỉ trong một ngày 8-3 năm Mậu Tý 1288, trận đồ cọc lim và hỏa công trên sông Bạch Đằng đã diễn ra như một trận bão lớn. Trần Hưng đạo oai phong lẫm liệt rút đốc gươm chỉ huy trên chiến thuyền lớn. Thượng lưu đánh xuống, hạ lưu đánh lên, hai bên bờ xông ra, hàng nghìn thuyền con, bè mảng chất rơm đốt lửa của tướng sĩ, dân binh dồn hàng nghìn chiến thuyền đạo thủy binh Nguyên Mông thiện chiến vào chiếc bẫy kinh hoàng của những chiếc cọc lim nhọn sắc. Chúng đã bị quân dân nhà Trần đánh tơi bời, tan tác mộng xâm lăng.
Sau chiến thắng, Hưng Đạo vương quay lại bến đò Rừng tìm người thôn nữ để đền lộc nước. Nhưng không thấy nàng đâu cả. Trên bến đò chỉ còn túp lều cỏ dưới bóng cây quếch. Dân trong vùng cũng không biết nàng là ai. Người ta bảo đấy là một bà tiên cứu nhân độ thế đã bay về trời hoặc hóa vào thiên hạ. Cảm động và biết ơn người đàn bà bến đò Rừng, cùng với việc phong cho dân trại An Hưng bốn chữ: “An Hưng Nghĩa Dân” vua Trần đã phong bà là “Thiên Hương Ngọc Trinh công chúa”, rồi “Mẫu Nghi Thiên Hạ”. Theo dòng chảy thời gian, dân gian về sau lập đền thờ thường gọi bà hàng nước bến đò Rừng là đức Vua Bà.
Tấm màn sương khép lại trong làn hương thơm ngát và khói sóng sông Bạch Đằng tỏa trắng dưới trăng. Bên tai tôi vẫn còn dư âm câu chuyện trong túp lều cỏ. Nếu không có Lịch thủy triều ngày ấy của bà hàng nước, không biết dòng sông này có nổi danh, đầy ắp sử thi và ánh trăng mộng mỵ thế kia không ?
| ĐỀN THỜ TRẦN HƯNG ĐẠO BÊN SÔNG BẠCH ĐẰNG |
| MIẾU THỜ VUA BÀ |
| BIA ĐÁ VÀ CÂY QUẾCH TRƯỚC CỬA MIẾU VUA BÀ |
***
Chiếc thuyền nan lại như chiếc lá bay đưa tôi theo dòng thủy triều, dạt sang sông Chanh về phía đông tới một vùng non xanh nước biếc. Tôi nhận ra đây là xứ đảo Hoàng Tân (dân gian gọi Hoàng Lỗ). Vùng đảo này với những dãy núi đá vôi như một đoạn đuôi rồng của vịnh Hạ Long quẫy về phía sông Chanh, sông Bạch Đằng. Tôi gặp những tốp cư dân đảo, tốp đang lội bắt cáy còng, cua ốc trên các bãi triều, tốp đang săn muông thú ven vách đá… Đấy là những người Việt cổ, đầu họ đội mũ kết bằng lá rừng, trên cài một chiếc lông đuôi chim rất dài. Bước chân họ lún trên mặt láng phù sa…
Từ xưa cư dân Hoàng Lỗ đã sinh sống bằng các nghề biển đánh bắt, khai thác thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi. Ở đây có khoai lim dây tím, vỏ tím, ruột trắng và bở trong. Khoai lim Hoàng Tân sinh củ trong lòng đất cát vàng, để lâu tiết nhiều mật, luộc ăn thơm ngọt như được ngào trộn với mật ong. Trên đảo có di tích Đầu Rằm, là nơi người Việt cổ sinh sống; có non nước Bình Hương sơn thủy hữu tình. Bình Hương có hòn núi Bình Hương, hòn Ông Sư Bà Vãi, giống hình ông sư và bà vãi đang theo nhau lội trên mặt nước long lanh. Trong gió, tôi nghe vọng lên câu chuyện kể từ vách đá:
Thuở xưa có một ông sư và một bà vãi cùng tu trong một ngôi chùa. Nhưng vì bọn cướp biển luôn vào cướp bóc, phá nhiễu chốn cửa thiền, nhà chùa định dời sang doi đất bên kia sông để lập chùa mới. Hôm ấy, bà vãi đội thúng đựng kinh sách lên đầu đi trước. Ông sư bê chiếc bình hương theo sau... Khi qua sông, họ dò dẫm theo các triền nông nước để lội. Đang lội, không ngờ gặp ngay chỗ n¬ước sâu, bà vãi vội vàng tốc váy lên rõ cao, kẻo ướt. Cặp đùi non chợt lộ ra trắng nõn nà trên mặt nước, ngay trước mắt ông sư. Bao nhiêu ngày tháng trong chùa cùng nhau tụng kinh gõ mõ không sao. Giờ đây, ông sư chợt sững lại, ngất lặng hồi lâu. Bỗng ông vấp phải hòn đá ngầm dưới sông, ngã chúi. Chiếc bình hương văng tòm xuống nước. Vừa lúc ấy, Phật bà Quan Âm hiện lên trỏ mặt sư “Nhà ngươi đã đánh mất chính quả!” Hai người chết đứng giữa dòng và ngay sau đó biến thành hòn Ông Sư Bà Vãi. Chiếc bình hương kia mọc lên hòn Bình Hương!...
Bây giờ, hòn Bình Hương và hòn Ông Sư Bà Vãi vẫn đứng đó lặng lẽ bên nhau trên sông nước. Nhưng hầu như loại khoai lim vỏ tím lòng trong của đất cát vàng Hoàng Tân thì… không còn nữa!
***
Trăng lên đỉnh đầu. Cửa sông Bạch Đằng chợt xuất hiện một ngọn đuốc cháy rùng rực tựa một hòn lửa trôi trong không gian âm âm sóng vỗ. Chiếc thuyền nan của tôi lại nhẹ nhàng chèo theo. Đang phân vân không biết rẽ ngả nào, thì một ông già cao lớn tới mười thước, râu tóc trắng xóa, dáng vẻ phương trượng, phong trần… quăng một cuộn dây cũng trắng như cước vào tay tôi. Tôi vội vàng bắt lấy. Lập tức chiếc thuyền bay vun vút rồi neo vào một gốc cây. Sau một lúc trấn tĩnh, tôi chắp tay cúi lạy: -Kính chào Thần Sông! Một tiếng vang trầm đục loang trên mặt sóng: -Chào nhà ngươi! Ta là Thần Hồ Mạch! Nhân đây, ta kể lại cho nhà ngươi biết:
Hồ Mạch ở phía bắc làng Yên Đông, là nơi đầu tiên dừng chân của tập đoàn 17 người ở Thăng Long đi mở đất. Vào quãng năm 1434, họ rời bỏ kinh thành, rủ nhau xuôi thuyền qua sông Hồng, đến cửa biển sông Bạch Đằng trấn An Bang lập nghiệp... Trong một đêm mưa, chợt nghe tiếng ếch kêu giữa rừng sú vẹt vọng tới. Họ lắng nghe, đoán chừng nơi có ếch kêu là nơi có nước ngọt. Rẽ rừng, lội qua bãi lầy, lên tới một gò cao, mọi người vạch cỏ lau gặp một vũng nước sâu hiện ra. Vục tay xuống uống thử, thấy nước ngọt chẳng kém gì nước mưa, cả đoàn mừng reo sung sướng. Sáng hôm sau, thức dậy trong ánh bình minh rạng rỡ, nhìn ra bốn phía, thấy gò đất cao nổi hẳn giữa rừng sú vẹt mênh mông. Sau lưng, là sông Bạch Đằng và dãy núi Tràng Kênh, Yên Tử. Trước mặt, là vịnh xanh đá biếc Hạ Long. Chạy về phía tây nam là biển cả dạt dào sóng vỗ cửa Nam Triệu. Trên gò, mạch nước vẫn ứa ra, cạn lại đầy. Mọi người càng lấy làm lạ. Họ bàn nhau ở lại.. Những túp nhà nhỏ đầu tiên mọc lên. Vũng nước được đào rộng ra, sâu thêm thành hồ. Hồ được đắp bờ cao giữ gìn nguồn nước mạch quý hiếm. Họ tìm kế sinh nhai ngay từ biển và rừng…
Thời gian trôi qua, Hồ Mạch vẫn tồn tại giữa vùng ngập mặn. Rừng bãi được khai mở lấn biển khơi, tôn trúc thành vòng đê. Vòng đê mỗi ngày, mỗi đời người thêm rộng dần, thách thức trước biển cả, gió bão. Nhiều mái nhà bên nhau thành hương thôn, làng xã. Bách mẫu thượng điền, dân cày cấy tại đây. Theo đó, từng vạt lúa vàng ghép nên thảm lớn, nên cánh đồng bao la. Nước ngọt Hồ Mạch đã đưa bao thế hệ con cháu các vị Tiên Công vượt qua muôn vàn khó khăn, cực nhọc để ngày nay có được một quê hương trong chu vi 34 km đê biển đạt tầm cao tới cốt 5 vững chãi trên cửa Bạch Đằng. Khởi thủy, lòng Hồ Mạch sâu hai, ba tầm đầu với. Trên bờ, dân dựng một ngôi miếu thờ thần Hồ Mạch. Thần Hồ Mạch ta đêm đêm dưới hồ hiện lên, cầm đuốc lớn dạo quanh hồ, rồi lướt soi qua các cánh đồng, ra vòng đê tuần tra bờ cõi. Tới lúc tiếng gà trong làng gáy vang, ta mới trở về hồ. Năm nào ta hay xuất hiện là năm đó mùa vụ nông ngư tươi tốt, bội thu, muôn nhà mạnh khoẻ, vạn vật sinh sôi. Trong miếu có bàn thờ linh thiêng nghi ngút khói hương, có bức đại tự “Phong Lưu cổ hồ”, có câu đối ca ngợi công đức người khai canh lập nghiệp. Những năm 1950-1955, vẫn còn thấy ngôi miếu ẩn dưới rặng cây rậm rạp quanh hồ. Cán bộ Việt Minh nằm vùng thường vào đó trú ẩn, hoạt động bí mật. Về sau do thời gian và con người quên lãng, miếu Hồ Mạch đổ nát, dần dần mất hẳn nền móng cùng dấu tích. Bờ hồ bị chặt phá cây cối, bị vạc xén đất san xuống ruộng cấy. Đáy hồ bồi nông dần, mùa khô hạn nẻ toác chân chim. Nay hồ đang bị lấn đất, thu hẹp, lẫn vào diện tích lúa màu. Phải đến tận nơi mới phát hiện ra hồ chỉ còn là một khoảng nước nông choèn. Khoảng nước ấy là di tích còn lại của Hồ Mạch. Khoảng nước ấy cũng như ruột ta bị cắt xén, loại bỏ. Ta đau lắm thay!
Nghe vậy, đôi chân tôi bủn rủn, sụp xuống như một kẻ tội đồ. Toàn thân ướt đẫm mồ hôi. Nhìn khoảng hồ cạn, lòng tôi se thắt lại như chính ruột mình vừa bị cắt. Hồ Mạch, một điểm khởi thuỷ có ý nghĩa lịch sử mở đầu một cuộc chinh phục biển cả và bãi triều. Hồ Mạch, mốc thời gian đầu tiên lập đất mở cõi của các vị Tiên Công Hà Nam, nơi khẳng định truyền thống khai hoang, lấn biển, lập làng của cư dân một vùng đất. Ghi nhớ sự tích này, nhiều dòng họ như họ Vũ xã Phong Cốc, họ Vũ làng Yên Đông xã Yên Hải đã chạm khắc trên cửa võng các gian thờ hình chú ếch với hàm ý nhắc nhở hậu thế “uống nước nhớ nguồn” tri ân công đức người xưa.
Vậy mà…
***
Đang trên đà xuôi chèo mát mái qua Bến Ngự-Sông Chanh, khi đến ghềnh đá Cống Vông, con thuyền của tôi như có người vít lại và loay hoay thế nào lại mắc vào chân cồn cây bù lù (cột đèn đường sông). Chỗ này nước vật chân cồn, dội rất mạnh thành những vùng xoáy như đám trẻ con chơi trò đuổi bắt nhau. Hình như có tiếng hát theo một làn điệu dân ca gì đó lẫn trong ánh trăng? Tôi cố lọc trong tiếng gió reo và nước chảy. Một điệu ca trù? Một khúc hát văn! Tiếng đàn nguyệt, sáo nhị, tiếng sênh phách đan nhịp, lúc rộn ràng, thao thiết, lúc nghẹn ngào, tắt lịm… Bỗng có bóng ba người đàn bà xiêm y ướt sũng màu trắng muốt, từ từ nhô khỏi mặt nước như ba đóa hoa sen vửa nở. Làn nước từ thân thể ướt sũng rớt xuống lấp lánh những giọt trăng. Họ cất cánh bay lên bờ đê phía Hà Nam, rồi vào một ngôi miếu nhỏ ẩn dưới tán những cây na dại cổ thụ... Tôi giật mình nhớ tới sự tích…
Sau chiến thắng Bạch Đằng, các cư dân thành Thăng Long tiếp tục đi mở đất lập làng. Khi đắp đê đảo Hà Nam đến giai đoạn hạp long Cửa Cái ở phía bắc thì gặp phải đoạn nước sâu chảy như thác đổ. Đê cứ đắp nên lại vỡ. Người ta phải đánh đắm nhiều thuyền đá, bè gỗ xuống lòng cái vẫn không sao lấp được. Các bô lão bèn bàn nhau lên kinh thành mời ca nương về múa hát góp vui, động viên dân công, mong quên đi gian khổ để hợp long cửa cái. Song ngày nọ tháng kia vẫn bó tay.
Cả làng đang băn khoăn cạn lương, hết kế, thì có lão thầy bói ở đâu đến nói: “Phải lập đàn ca xướng, đàn ngọt hát hay bên cửa Cái, chờ khi nước rút, đánh sập đàn chòi, hiến giai nhân ả đào cho Thủy thần, mới có cơ hồ thành sự…” Chức sắc, dân làng nghe vậy, cho là điềm giời, liền cho dựng chòi ca, lập đàn trên cửa cái. Nhằm nửa đêm, định bí mật lừa rút đàn chòi cho ả đào ngã xuống. Nhưng mưu sự chưa kịp ra tay thì có một cô đào tên gọi Ả Vông đang ngồi trong kíp hát bỗng đứng dậy vái ba lễ: “Xin thưa dân làng! Không cần phải thế! Mọi người chờ đó. Hát xong sẽ hay!” Quả nhiên, vừa lúc nước rặc mạnh, kíp hát chưa dứt câu cuối, ba đào nương đã cầm tay nhau bất ngờ nhảy xuống vực sâu. Nước chảy cuồn cuộn xoáy nhanh họ ra sông. Dân làng ai cũng sửng sốt. Chức sắc liền đốc dân nhất loạt ném đất đã sắp sẵn xuống cửa Cái. Chỉ chớp mắt, cửa Cái được lấp kín. Ba đào nương đã dũng cảm hiến thân mình giúp dân làng ngăn dòng nước chảy. Nhờ đó mới hạp long được cửa cái này. Để tưởng nhớ công ơn, dân làng lập miếu thờ ngay tại chân đê nơi họ xả thân. Cái đó, gọi là Cái Vông. Người đời sau gọi là Cống Vông (thuộc xã Cẩm La). Miếu đó là miếu thờ Thủy cung Thánh Mẫu rất thiêng. Thuyền vận tải qua đây và thuyền nghề các làng trước và sau khi đi sông biển về thường lên miếu thắp hương, cầu nguyện, lễ tạ. Cho đến nay ngôi miếu vẫn còn cùng những câu thơ truyền miệng:
…Cái sâu nước chảy trong xanh
Ả Vông lấp cái, mới thành đê to
Dân quê hai xóm Cái–Đò
Nhớ ơn lập miếu phụng thờ sớm hôm…
Tiếc thay trận vỡ đê năm Ất Mùi 1955 đã cuốn trôi mất các đồ thờ tự, tế khí và miếu thờ. Nhưng trước sự linh liêng của linh hồn những người đàn bà ca kỹ trâm oanh và dũng cảm, dân quanh vùng và khách thập phương vẫn cố gắng tu tạo, xây dựng lại ngôi miếu để hương khói nghìn thu.
| MIẾU THỜ BA ĐÀO NƯƠNG Ở ĐOẠN ĐÊ XÃ CẨM LA |
Vẫn trên chiếc thuyền nan nhỏ bé, tôi vòng qua Cống Quỳnh, Cống Lái, lượn ra Cái Tráp, Cát Hải, Cát Bà… Thủy triều đang lên rào rạt. Tôi lại chèo xuôi, nhưng vòng ngược lại, về phía sông Rừng. Một bên là đầm Nhà Mạc, một bên là đảo Hà Nam. Chiếc thuyền tôi như chiếc lá trúc do tay một họa sĩ thả trên bức tranh lụa. Từ bức tranh lụa của sông nước mờ ảo ấy vọng lên tiếng hò biển của đôi trai gái làng nào đó: Bạch Đằng nước chảy trôi nghiêng. Thương em đến nát mạn thuyền vẫn thương!... Chao ôi! Người sông nước thương nhau, yêu nhau đến thế là cùng!
Thuyền cập vào một bến mạn tây làng đảo. Ngước nhìn lên, mái đình Hải Yên tựa một cánh cung dàn cong ngay trước mặt. Bên cạnh đình là một ngôi đền nhỏ còn thơm ngát hương trầm. Đền thờ Bà Chúa Ngóe làng Hải Yến! Thắp một nén hương, vái lạy, tôi lặng nghe cõi lòng dâng lên một cảm xúc khó tả. Đêm trăng thanh tĩnh ngân tiếng chuông đồng như những giọt sương ướt đằm rơi xuống. Tấm màn sương lại từ từ mở ra… Một quầng ánh sáng hắt lên, chiếu rọi vào không gian…
Thời Hậu Lê… Trên thuyền Ngự rời kinh thành Thăng Long, vua Lê Thánh Tông (1460- 1497) đi tuần thú Biển Đông qua vùng đảo Tuần Châu (vịnh Hạ Long). Thuyền Ngự đang rong ruổi, chợt nghe trong gió văng vẳng tiếng một ngư¬ời con gái hát rằng: Tay cầm bán nguyệt xênh xang. Hàng trăm quân t¬ướng phải hàng chị đây!
Vua lấy làm lạ nơi đảo hoang sao lại có ng¬ười hát hay đến thế, bèn sai cận thần đốc thuyền tìm theo tiếng hát. Tới sư¬ờn núi thấy một cô gái vừa cắt cỏ vừa hát say mê trong một làn điệu dân ca. Bá quan lên núi, dẫn người con gái vừa hát xuống thuyền. Cô gái e thẹn cúi đầu. Nhà vua hỏi: -Này cô gái! Cô tên là gì? Hãy cắt nghĩa ta nghe câu hát mà cô vừa hát? Cô gái ngẩng lên lau mồ hôi, lộ khuôn mặt sạm nắng, ánh mắt long lanh, nhưng mái tóc lại tỏa lan mùi h¬ương thơm ngát:
-Dạ thưa Đức vua! Con sinh ra ở vùng đảo này. Cha mẹ làm nghề chài lưới trên vịnh Hạ Long. Khi con chào đời giữa mênh mông biển cả và muôn trùng đảo biếc, lo trẻ sơ sinh khó bề sống ổn, nên cha mẹ đặt tên con là Ngóe cho dễ nuôi. Xin đức vua đừng chê cười con gái làng chài xấu xí... Và cô giải nghĩa câu hát: -Chiếc liềm con cầm đây tựa vầng trăng non, cắt vào đám cỏ. Cỏ lớn là tướng, cỏ bé là quân, tất cả đều ngã rạp dưới tay liềm. Phải cắt trừ cỏ thì đất mới yên. Từ đó con mới có chỗ cày cuốc để gieo trồng lúa ngô, khoai sắn...
Vô cùng cảm phục tài trí thông minh của cô gái, nhà vua bèn sai ban thưởng cho lụa là, châu báu. Nàng Ngóe nhất mực từ chối. Vua tỏ ý muốn đưa nàng về cung phong nhận làm công chúa và hứa sẽ chiều chuộng theo mọi ý của nàng. Nhưng nàng chỉ tâu xin vua cha một điều nhỏ: -Dạ! Thưa đức vua vạn tuế! Con chỉ muốn cầu xin đức vua một mảnh đất, bằng cách thả một chiếc dải yếm xuống dòng sông. Nếu dải yếm trôi và dừng lại ở đâu thì dân làng của con được lập nghiệp ở đó làm nơi cấy cày, sinh sống.
Đức vua thuận ý. Quả nhiên, lúc quay về, thuyền Ngự qua cửa sông Bạch Đằng, nàng Ngóe thả dải yếm lên trời xanh. Dải yếm bay nhẹ nhàng trong gió, rồi từ từ rơi xuống mặt sông, trôi một lúc và dạt vào mạn bãi triều phía Tây đảo Hà Nam... Dân làng của cô gái được đất vua ban. Từ đó làng được gọi cái tên Dải Yếm thật nôm na dân dã.
Và lạ thay con cháu bà chúa Ngóe các đời sau lại sinh ra rất nhiều con gái xinh đẹp và có giọng hát hay. Làng còn đ¬ược ví là đất Công Chúa. Sau này làng Dải Yếm là làng Hải Triều, rồi Hải Yến thuộc xã Yên Hải ngày nay xuất phát từ sự tích “Bà Chúa Ngóe” còn tương truyền trong dân gian. Đền thờ Bà chúa Ngóe vừa được tu tạo lại, mới khánh thành vào dịp cuối thu năm Tân Mão!
***
Chiếc thuyền nhỏ lại đưa tôi về bến sông Đình Cốc, một ngôi đình cổ lớn và đẹp nhất còn tồn tại đến nay, trong 9 ngôi đình cổ ở Hà Nam-Yên Hưng. Khác với các ngôi đình khác thờ nhân thần, danh tướng, đình Cốc thờ Thần Nông và “Tứ vị Thánh Nương” làm Thành Hoàng làng.
Ngày xưa cuộc sống chủ yếu trông vào thiên nhiên. Trong quan niệm của người nông dân nơi đây, thiên nhiên là một đấng tạo hoá cao siêu ban phát bình yên và tài lộc cho con người. Mỗi khi đem hạt giống ra ngâm gieo, cấy cây lúa xuống ruộng, kéo con thuyền ra sông biển… đều muốn trình báo, cầu mong Thần Nông và các vị Thánh thần phù hộ trời yên bể lặng, xóm làng yên vui. Khi bưng bát cơm mới, hái chùm quả, bắt mẻ cá tôm đầu mùa… người ta lại thành tâm làm lễ dâng cúng tạ ơn. Chìm trong tình cảnh hằng năm nắng hạn triền miên, ruộng đồng khô nẻ không có nước cho sản xuất và đời sống, vùng Hà Nam luôn luôn bị mất mùa, đói kém. Đời sống của cư dân rất đỗi khó khăn. Không có cách nào khác, chức sắc kỳ hào cùng dân các làng lại đổ về sân đình Cốc lập đàn “đảo vũ” tế lễ Trời Đất, cầu xin Thần Nông cho mưa nắng thuận hoà, phong đăng hỏa cốc...
“Tứ vị Thánh nương” gồm tượng Thánh Mẫu và bài vị 3 bà Thánh Nương (trước đây thờ ở miếu Cốc ở phía tây làng cách đình khoảng 500 mét) về đình thờ 3 ngày 3 đêm rồi mới rước trở lại. Đình Cốc thờ cúng như vậy là do sự tồn tại của miếu Cốc một thời bị dột nát, của cuộc cải tạo văn hoá những năm đầu 1970. Thời đó, để bảo toàn tâm linh, dân làng đã đem các tượng bụt, trong đó có “Tứ vị Thánh Nương”, đồ tế khí, bia đá các đền chùa, miếu mạo về thờ tập trung trong Đình Cốc. Cúng lễ lâu rồi, Đình Cốc thành ra có tục vừa thờ Thần Nông vừa thờ cả “Tứ vị Thánh Nương”.
Theo thần phả và truyền thuyết, Thánh Mẫu tên thật là Kiền Nương, họ Triệu, sinh ngày 1-3, con một gia đình ngư dân trên cửa biển Kiền Hải, Châu Hoan (Cửa Cờn, Quỳnh Lưu, Nghệ An). Cha là Triệu Quang Bình, mẹ là Dương Thị Phấn. Một đêm vợ chồng chèo thuyền đánh cá trên biển, bà Phấn mơ thấy mình nuốt mặt trăng vào bụng. Sau, bà sinh hạ được một cô con gái, đặt tên là Kiền Nương. Kiền Nương lớn lên là một tuyệt sắc giai nhân, được đưa về Trung Quốc vào cung làm Hoàng Hậu của vua Tống Đế Bính (1279-1284). Trong một đêm đi dạo hồ sen về, Hoàng hậu nằm mộng thấy gặp một Thiện nhân đưa cho một cành đào. Cành đào chia làm hai phiến, một phiến hoa sen hồng, một phiến hoa hạnh hồng. Mãn kỳ thai nghẽn, bà sinh một cái bọc. Cái bọc nở ra hai người con gái. Thấy hai công chúa sinh đôi xinh đẹp như búp sen hồng lại nhằm vào ngày rằm tháng tám, nên vua đặt tên là Hồng Liên và Hồng Hạnh. Khi giặc Nguyên-Minh đánh chiếm nhà Tống, vua Tống Đế Bính vội sai cận thần đưa Hoàng hậu cùng hai Công chúa sinh đôi và một thị nữ xuống thuyền chạy loạn về phương Nam. Đoàn thuyền vượt biển đến Nghệ An bỗng gặp phải trận phong ba lớn đã bị đắm. Chỉ còn Hoàng hậu, hai công chúa và thị nữ sống sót, dạt vào một ngôi chùa bên cửa bể Kiền Hải, được các nhà sư cứu thoát và che chở. Sau đó được tin vua Tống Đế Bính tử trận, nhà Tống mất, Hoàng hậu nhìn về phương Bắc mà than rằng: “Sống không báo trung được với nước, không trả được thù nhà thì ta chết còn hơn!” Hoàng hậu, hai công chúa và thị nữ cùng quyên sinh vào một ngày cuối năm (24 tháng Chạp). Dân địa phương vô cùng cảm phục đã lập miếu thờ. Khi vua Trần Anh Tông đi bình Xiêm, vua Lê Thánh Tông đi dẹp rợ Hồ qua đây từng gặp sóng to gió lớn, không tiến quân được. Các vua vị nào cũng nằm mộng thấy bốn người đàn bà mặc triều phục, tay cầm kiếm xin theo hầu giúp nước. Thêm nữa lại nghe dân bản xứ kể chuyện, các vua đều lấy làm lạ và đều cùng làm lễ cầu nguyện nếu dẹp được giặc, xong sẽ trở về trùng tu lại miếu và phong sắc. Y rằng thắng trận, các vua đều làm đúng lời hứa, phong sắc “Đại càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương” cho họ và truyền trong dân gian thờ phụng coi như Thượng đẳng thần…
Các lão làng còn kể: Cách đây hơn 170 năm, một nhóm người làng đi đồn trú Nghệ An qua cửa Cờn thấy tích thiêng của ngôi đền và khí tiết lẫm liệt của bốn vị Thánh nương, đã xin chân hương về quê tôn nhang, tạc tượng, lập bài vị thờ trong miếu Cốc. “Tứ vị Thánh nương” xứ Nghệ từ một đế chế Trung hoa đã bước vào những trang Thần phả của làng. Đủ thấy tinh thần nhân loại nhân văn của người xưa vùng đất này nhân ái đến nhường nào! Không thể biên giới, đế vương nào cương tỏa.
MIẾU CỐC VÀ CẦU MIẾU -MỘT ĐỊA DANH THỜ "TỨ VỊ THÁNH NƯƠNG"
Ở LÀNG PHONG CỐC
(Tranh bột màu của DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI -1975)
***
Còn đang miên man ngắm nhìn mũi đao cong một vành trăng khuyết trên mái đình Cốc, tôi chợt thấy cánh cửa đình chạm khắc cảnh rồng phượng chan hòa cùng trời mây hoa cỏ từ từ mở rộng ra. Ánh sáng ngũ sắc trong đình tỏa lung linh rực rỡ theo dàn nhạc nhị huyền bát âm ngân nga réo rắt như nước chảy mây trôi. Bốn người đàn bà xiêm y rực rỡ trên ngai bước xuống, mỉm cười. Nụ cười như hoa sen nở. Họ cầm kiếm múa những đường uyển chuyển, rồi nhún chân, xòe hai cánh tay bay lên, nhập vào không gian xa ngái.
Tôi choàng tỉnh. Ôi! Thực hay mơ? Tiếng chim ngoài vườn hót ríu ran mang ánh nắng ban mai và mùi hương táo chín vào cửa sổ. Thì ra tôi vừa bơi con thuyền nan nhỏ bé rong ruổi một giấc mơ kỳ diệu! Giấc mơ còn dư ba lớp lớp triều dâng và lóng lánh ánh trăng. Tất cả xâu chuỗi lại một vòng ngọc khoác quanh ngực tôi. Tôi ngộ ra một điều: Không chỉ trong đời thường hằng ngày ta có được những gì khát vọng và gặt hái từ hiện thực, hạnh phúc nằm ngay trong những giấc mơ, cất cánh từ những truyền thuyết, huyền thoại và cổ tích. Tất cả đang sinh sôi, vận động trong dòng chảy Thời Gian! Tất cả vẫn tiếp tục khép mở trên sân khấu Nhân Gian!
Có phải vì quá yêu mảnh đất này chăng mà trong tôi cứ mãi một niềm đau đáu: Bạch Đằng giang là một miền quê của sông nước trăng thơ. Mỗi tấc đất tấc nước nhuốm đầy sắc màu huyền thoại và cổ tích. Tất cả đã ủ men, lắng sâu thành trầm tích và trưng cất trong tôi thành xạ hương…
11-2011

MỜI CÁC BẠN SANG XEM VÀ ĐỌC BÊN:
Trả lờiXóahttp://camphuong.blogtiengviet.net/