Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

KÝ ỨC NGƯỜI CHA -Phần I-

KÝ ỨC NGƯỜI CHA

LỜI GIÁO ĐẦU

Cho đến bây giờ, sau 30 năm kể từ ngày cha tôi mất (1983-2013), sau một thời gian kê khai lại hồ sơ và chờ đợi, gia đình tôi đã nhận được Quyết định Truy tặng Huy Chương Kháng chiến Chống Pháp hạng Nhất của Nhà nước trao cho cha tôi (và Công văn Thị xã gửi). Quyết định Truy tặng số 204 đề ngày 24-1-2013 do Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan ký thay Chủ tịch nước CHXHCN VN.
Khi sinh thời, cha tôi không cho chúng tôi làm hồ sơ khai thành tích Kháng chiến chống Pháp của ông. Bởi ông cho rằng: “Gia bần chi hiếu tử. Quốc loạn thức tâm trung”. Làm việc tốt cho người, việc ích cho làng cho nước chớ kể công. Làm mà kể công, làm thì ít mà kể thì nhiều sẽ tự mình đánh mất chữ Tâm!
13 năm sau khi cha mất, năm 1996, có đợt kê khai thành tích kháng chiến tiếp theo, tôi mới làm hồ sơ kê khai. Như vậy là trái với ý của cha. Nhưng chị em tôi bảo nhau cần phải làm cho gương mặt cha mình sáng trở lại và cho cái thời chị em mình bị mặc cảm lý lịch được thanh trong.
Cuộc đời cha tôi là cả một tấn bi kịch!
Xin trân trọng giới thiệu:

 

KÝ ỨC NGƯỜI CHA
Truyện ký: DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI


Phần I –Thời gian trong trẻo 

Tháng năm những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX.
Một thời đi làm báo, tôi đến các cơ sở, các khu dân cư ở quê tôi, không phải bằng thẻ Nhà báo, mà bằng cái danh của cha tôi. Cứ nhắc đến tên cha tôi, giới thiệu tôi là con trai ông là hầu như các bậc ông bà, cha mẹ, các cán bộ hồi đó đều vui vẻ đón tiếp và hỏi han, giúp đỡ. Tên cha tôi được mọi người nhớ như nhớ đến một danh nhân, danh thắng trong vùng. Người ta ca ngợi đức độ, đường ăn lẽ ở, phong cách đối nhân xử thế và đặc biệt tính tình hài hòa, chịu khó, lam làm của ông. Cũng từ đó mà tôi được mát mặt, thuận buồm xuôi gió trong tác nghiệp nghề báo. Và suốt quá trình ấy, tôi chưa bao giờ lạm dụng, làm gì hổ thẹn đến danh thơm của cha tôi!

Cha tôi sinh ra và lớn lên ở một làng quê bên sông Bạch Đằng và sông Chanh. Sông Chanh thơ mộng là một nhánh lớn của sông Bạch Đằng hùng vĩ chảy qua huyện Yên Hưng, chia đôi huyện thành hai tổng: Tổng Hà Bắc và tổng Hà Nam. Bạch Đằng và sông Chanh như sông Mẹ sông Con vòng ôm lấy vùng quê làng đảo Hà Nam thấp hơn mực nước biển với những cánh đồng chua mặn, các làng xã nằm dọc hai con đường cái quan phía đông và phía tây. Làng Cẩm La nằm cận đường phía đông. Có lẽ người làng tôi ngày xưa yêu cái làng của mình ghê lắm nên mới đặt tên là Cẩm La, tức dải lụa màu tươi đẹp. Giữa làng có một gò đất cao, cư dân “Tứ xã” lập miếu Tiên Công thờ 17 vị Tiên Công “Trúc hải thành điền”. Làng được suy tôn như một người con trưởng của 7 xã Hà Nam hồi đó.
Năm 25 tuổi (1932) cha tôi làm lý trưởng của làng. Chuyện cha làm lý trưởng là cả một kho chuyện vượt tề gia nội trợ của bà nội tôi. Bà nội tôi gái họ Dương Lớn, một người đàn bà đảm đang, quyết đoán và có gan “gái góa lo việc triều đình”!
Bà nội tôi từng phải bán mất ba bẩy sào ruộng để đền quan huyện An Hưng vì tiếng mèo kêu. Sự thể là: Hôm mang mèo sang chợ Rừng bán, lúc đi đò dọc qua sông, mải nhìn quan huyện đang ngồi trên lưng ngựa cho ngựa uống nước, bà bước lên bến bị vấp ngã. Bà ngã, chiếc giỏ đựng mèo bật ra, con mèo kêu đánh meo một tiếng lớn rồi thét thất thanh. Mèo kêu làm ngựa sợ. Ngựa sợ hất quan huyện ngã xuống bến sông. Bà bị phạt nặng, may không bị bỏ tù... Sau đận mất ruộng, ba bốn năm sau bà lại vực lại được cơ nghiệp.
Sinh hạ bốn người con gái, được cha tôi là con trai thì ông nội tôi qua đời, lúc cha tôi lên bốn tuổi. Bà nội tôi tiếp tục một mình chèo chống, mở mang cơ nghiệp gia đình. Cả cuộc đời bà dồn cho việc gánh vác và tu tạo giang sơn nhà chồng. Ngay từ khi còn nhỏ, cha tôi đã tỏ rõ là một cậu bé ham học, đối đáp thông minh và hiền thảo. Thấy con trai sáng dạ, bà nội quyết chí nuôi cho ăn học thành người. Bà và các cô tôi nai lưng làm ruộng, hết cấy hái trồng trọt lại ra bờ sông bãi sú bắt còng bắt cáy, bất kể gian khổ nửa đêm gà gáy để tích cóp. Bà bán thóc lúa, ngô khoai, con lợn con gà, dồn lực cho cha tôi sang học trường cụ Đồ Chỉ bên làng Yên Giang tổng Hà Bắc. Cụ Đồ Chỉ là hậu duệ thứ sáu của Hải Thượng Lãn Ông, quê Hải Dương về đây lập nghiệp. Cụ còn là ông bác nhà thơ Lê Hữu Lịch bây giờ. Vài ngày bà và các cô tôi lại gánh thóc qua đò Chanh sang chợ Rừng Quảng Yên và không quên biếu thầy. Cha tôi học chữ nho thông làu lắm và còn học thêm cả tiếng Pháp. Người sớm bộc lộ tài học và năng lực trong đám học trò của thầy Đồ Chỉ. Bà tôi rất hài lòng về công lênh thức khuya dậy sớm, thân cò lặn lội qua sông.
Làng tôi có tới 5 họ Dương với 5 ngôi nhà thờ họ khác nhau. Riêng họ Dương Lớn và họ Dương Đình là hai họ “có máu mặt” thời nào cũng thường hay ngầm cạnh tranh, chạy đua về mọi mặt. Nhưng thường thì họ Dương Lớn hay nhiều người chạy đua nắm giữ quyền bính trong làng hơn. (Ngay bây giờ cũng vậy, người họ Dương Lớn luôn chiếm bội phần trong Đảng bộ xã). Nhà tôi thuộc họ Dương Đình, các đời thường chú trọng văn chương, chữ nghĩa.
Thời gian đó, làng Cẩm dậy lên việc bầu chọn người làm lý trưởng.
Biết cha tôi là người có học, các cụ trong họ Dương Đình đã họp bàn, cử ông ra tranh cử. Cùng lúc đó, trong gia ổ bên họ ngoại có ông Dương Văn Miên làm thủ bạ, cha tôi phải gọi bằng chú, cũng đứng ra tranh chức. Vậy là hai chú cháu cùng chạy đua. Lúc ấy, dòng họ đã nhiều suất đinh, nhà ông Bạ Miên lại khá mạnh về tiềm lực kinh tế. Bên nhà bà nội tôi xem chừng kinh tế yếu hơn. Ổ bên ấy họ còn mưu mẹo thuê mướn thêm trâu trong làng trong họ về nhà để phô trương thanh thế. Vả lại bên này, cha tôi còn trẻ, chỉ ham học, chỉ cốt đọc sách, không màng làm quan. Nhưng bà tôi đã ra sức động viên con trai và quyết chí chạy đua giành bằng được chức lý trưởng về cho dòng họ nhà chồng. Bà đã chứng tỏ cho dân làng và dòng họ biết bản ngã của bà “đứng mũi nổi mũi, đứng lái nổi lái” của bà. Bà đi khắp những người thân trong gia ổ vay mượn, rồi mua thực thêm ruộng, tậu thực thêm trâu, mời quan huyện về thăm gia cảnh. Bà dẫn các quan ra thăm cánh đồng, thăm bầy trâu đang kéo cày, thăm vựa lúa, chuồng trại chăn nuôi... Thấy cha tôi tỏ rõ người có học, thông tường địa sử, am hiểu văn chương, nói năng lịch thiệp... các quan huyện rất lấy làm cảm tình và yêu mến.
Và cuối cùng bà tôi đã thắng. Cha tôi trở thành lý trưởng của làng. Ít năm sau thì nhận chức Phó chánh tổng, rồi Chánh tổng khu vực Hà Nam. Cờ đến tay ai người ấy phất. Quả thực, cha tôi đã là một ông lý trưởng có uy tín, liêm chính trong làng và một vị chánh tổng nhân hòa của cả tổng. Ông không hề hách dịch với dân làng hay người ăn kẻ ở. Ra đường hay chốn đình chung, gặp ai ông cũng chào hỏi, người tuổi cao tôn bậc bác, người tuổi kém gọi bằng chú, với tình cảm đầy thân thiện. Cha tôi đã thực hiện một loạt việc khuyến khích tu sửa đình chùa, cho đào hệ thống mương, cống thoát nước, bắc cầu qua sông ngòi cho dân ra đồng... Mương thoát nước chạy dọc đường làng đào rất rộng, các nhà dân ven đường phải bắc cầu tre, gỗ hoặc cầu đá để đi lại. Đến những năm 1970, vẫn còn thấy một vài tấm cầu đá sót lại, rồi không biết biến đâu mất. Sau này dân tình còn truyền tụng, ca ngợi đạo đức và năng lực của ông.
Năm Nhâm Ngọ 1942, vì nể phục cha tôi, chức sắc và dân chúng các làng đóng một bức đại tự lớn tặng ông với dòng chữ “Thế phả Dương ba” (dòng họ Dương được đời ghi nhận phát triển, thăng hoa). Nhưng không có ai thể hiện chữ đẹp, nên người ta đã mời cha trực tiếp viết bốn chữ đó lên tấm gỗ dổi để thợ sơn khắc. Bức đại tự mang bút tích của cha, tôi vẫn còn giữ được đến tận bây giờ trên tường ngôi nhà gỗ cổ năm gian! Về bức đại tự này cũng là một câu chuyện đáng kể, sẽ nói đến .
Năm 1945, phong trào cách mạng dội lên như sóng. Dưới sự chỉ đạo của tướng Nguyễn Bình từ chiến khu Đông Triều, ngày 20-7, nhân dân tỉnh lỵ Quảng Yên ào ạt nổi dậy cướp chính quyền từ tay thực dân Pháp. Dân các làng xã Hà Nam vượt sông Chanh kéo sang phố huyện. Tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các thân hào chí sĩ, Cách mạng và nhân dân đã bầu cha tôi làm chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời xã Cẩm La, cùng lúc với ông Ngô Đình Như chủ tịch lâm thời Ủy ban cách mạng xã Phong Cốc. Giúp việc cho cha là ông Dương Đức Tất (người họ Dương Lớn), thư ký Ủy ban. Sau này ông Dương Đức Tất làm Trưởng ty Thủy sản, rồi phó Ty công an tỉnh Quảng Ninh. Năm 1946, xảy ra việc anh trai trên tôi tên là Quỳnh (con mẹ Hai người làng Quỳnh Biểu xã Liên Hòa) bị chết đuối bên đầm nhà Mạc trong khi chở cá tôm đi chợ Rừng Quảng Yên để bán. Sóng to, gió bấc, đúng như câu ca trong vùng sông nước Bạch Đằng: Con ơi giữ lấy lời cha/ Nước lên gió bấc chớ qua sông Rừng. Hôm ấy vào ngày 24 tháng Chạp âm lịch, người anh con bà cô và anh Quỳnh chèo thuyền nan chở đầy tôm cá cố vượt sông Rừng để về chợ. Thuyền nan bất ngờ bị sóng lên, gió ngược đánh úp. Anh con bà cô bơi được vào bờ. Anh tôi bị kiệt sức, chết đuối, trôi mất xác. Còn sáu ngày nữa thì Tết nguyên đán.
Thuở ấy, cha tôi còn là một Chánh tổng đầu tiên của các xã làng đảo Hà Nam dám bỏ tiền của thuê nhân công quai đê, đắp đầm khai thác cá tôm trên vùng cửa sông Bạch Đằng. Cha và mẹ Cả tôi sinh được 5 con gái; phải đến bà thứ hai mới sinh được anh tôi. Nay mất người con trai hiếm hoi, cha tôi phát điên phát cuồng vì đau xót và thương tiếc hạt ngọc không chỉ của mình mà của cả một chi ổ lớn nhà họ Dương Đình. Chán chường mọi thứ, cha buông bỏ chức sắc, bỏ cả đầm thủy sản Nhà Mạc đang lúc làm ăn như nước lên. Ông ra Hồng Gai mở hiệu buôn bán thuốc lào. Bà Hai cũng bỏ đi, về làng sinh sống.
Năm 1949. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Chính quyền thực dân Pháp biến Hà Nam thành vùng tề ngụy, chống phá cách mạng rất gắt gao. Chúng cho xây đồn bốt khắp các làng xã nhằm phong tỏa, phá vỡ các cơ sở Đảng và càn quét lực lượng Việt Minh đang phát triển. Cha mẹ và các chị tôi đã ủng hộ kháng chiến khá nhiều vàng. Những chiếc nhẫn, những đôi hoa tai đã được tháo ra từ ngón tay, từ vành tai các chị tôi được dồn lại cho vào chiếc ống cân... Thời gian này, cha tôi lấy mẹ tôi (người làng gọi bà là bà Hai, nhưng thực ra là bà Ba). Tôi ra đời, như một viên ngọc mới được Trời Đất thương tình thay thế. (Rồi, liên tiếp mười hai năm liền, năm anh em trai chúng tôi ra đời, mất một, nay còn bốn. Lớn lên lập gia đình mỗi người một phận, mỗi người một nơi làm ăn, anh em chúng tôi vẫn coi nhau như hồi còn bé; gặp nhau là vui như tết, như ngày cất vó, chăn trâu...) Từ đó, dân làng hàng tổng lại thay đổi cách gọi, gọi cha tôi là ông “Tổng Cu” một cách trìu mến. Cha tôi mừng lắm. Con cái mới là của cải, là tài sản bền lâu.

Tiếp tục mạch chuyện.
Được mấy năm, cha tôi lại chuyển về Quảng Yên vẫn buôn bán thuốc lào và các thứ hàng tạp hóa để được gần vợ con. Và cũng là tránh mọi phức tạp, nhiễu nhương; tránh bọn chủ mỏ Tây và bọn việt gian rình rập. Cái biển hiệu thuốc lào Nhân Mỹ do ông họa sĩ Kỳ Dương vẽ hình một cụ già tóc bạc phơ ngồi hút điếu cày, nhả làn khói trắng vào không gian như vẫn còn đó trong tâm trí những người dân phố thị cùng thời còn sống đến hôm nay.
Thời gian bấy giờ, bến Cống Mương (thuộc phường Phong Hải ngày nay) tấp nập thuyền bè qua lại và vào neo đậu. Bến nhanh chóng thành một cảng nhỏ giao thương buôn bán giữa các nơi với cư dân vùng Hà Nam. Đoán chừng nơi đây có thể làm ăn được, vẫn để ngôi nhà gỗ cổ ở làng Cẩm La cho bà Cả và mẹ tôi trông nom, ông và chị tôi Dương Thị Lê -người con gái thứ ba lại ra thôn Cống Mương mở cửa hiệu bán hàng, tiếp tục con đường thương mại. Trong cửa hàng, cha tôi buôn bán những cỗ quan tài phục vụ cho các đám tang trong vùng. Tại đây, được cách mạng giác ngộ, ông đã bí mật nuôi các cán bộ Việt Minh nằm vùng đang hoạt động gây lại cơ sở. Một buổi sáng tháng Tám, trời nắng gay gắt, chợt có nhiều tiếng súng đằng cống Canh Thu vọng lại. Giật mình, cha đoán làng nước có sự. Đang định đóng cửa hiệu thì hai bóng người như một cơn gió đột ngột chạy vào nhà. Ông kịp nhận ra hai cán bộ Việt Minh: Phạm Toán và Trần Tùng. Không kịp đắn đo, ông vội vàng sai chị gái tôi nhanh tắp mở quan tài, ấn hai ông vào hai chiếc rồi đạy nắp lại, khiêng các chiếc khác chồng lên. Cha tôi còn kịp nhanh trí bảo chị tôi xuống bến sông lấy sào khuấy nước đục ngầu lên như thể có người vừa lội bơi sang bên kia, để lừa địch. Tên quan hai Pháp và bọn lính ập đến. Bọn chúng xét hỏi: Có thấy hai tên Việt Minh chạy qua đây không? Cha tôi đánh liều chỉ xuống bến sông trong đồng: Có! Có! Hai thằng vừa chạy theo đường này! Bọn lính liền sục xuống bến sông thấy nước đục ngầu, vừa chỉ trỏ vừa bắn bâng quơ mấy phát súng sang bên kia cánh đồng đang mùa lúa trỗ ngập đầu... Cả toán địch vào nhà. Cha và chị tôi rất bình tĩnh, bật bia, soda đầu gấu bày ra mời. Chúng còn gợi chuyện cha làm cơm. Vậy là hai cha con mất cả một ngày thịt gà, thổi cơm, dọn mâm rượu thịnh soạn thết đãi chúng. Khi chúng đi khỏi, hai ông Việt Minh mới được hai cha con dỡ đám áo quan để họ nhảy ra. Người họ ướt đằm như vừa tắm dưới sông ngoi lên. Chị tôi còn trêu đùa, lấy bát hứng những giọt mồ hôi trên mặt họ rỏ tong tỏng...
Tôi muốn kể một chút về Phạm Toán. Ông là một “con hùm xám” trong vùng lúc bấy giờ. Nhiều lần từng xuất quỷ nhập thần, bất ngờ ra tay quật ngã hoặc nổ súng vào bọn lính, ông đã khiến chúng khiếp sợ và kiềng nể. Một hôm nhận nhiệm vụ móc nối một cơ sở, Phạm Toán đội một thúng thóc, trong giấu bó tài liệu cùng khẩu súng lục, giả người đi đong thóc trên chợ về. Đến đoạn đường xóm dưới thì bị một tên chỉ điểm phát hiện. Hắn mật báo cho bọn bang tá đồn Cống Mương. Bang tá lập tức cho lính đón lõng. Biết bị lộ, Toán vẫn bình tĩnh đi. Khi giáp mặt bọn lính, bất thình lình Toán móc bó tài liệu và khẩu súng ra, hắt luôn thúng thóc vào mặt chúng. Bọn địch không kịp trở tay thì ông đã biến mất qua các lối ngõ ngoằn ngoèo. Một lần khác tháp tùng một cán bộ cấp tỉnh, hai người vừa dưới bờ sông đi lên, thì bị rơi vào ổ phục kích. Toán nhanh trí đẩy đồng chí cán bộ xuống sông bơi trở lại sang bên kia. Còn mình hai tay hai súng lục chống trả rất quyết liệt và thoát khỏi vòng vây. Hai ông Phạm Toán và Trần Tùng nay vẫn còn sống, đều ngoài 80 tuổi. Ông Phạm Toán chỉ có một cô con gái, phải nhận thêm một cậu con trai về nuôi để nối dõi.
Mẹ Cả tôi có một cậu em là con ông chú cũng bí mật hoạt động Việt Minh. Một lần, bị địch phát hiện đuổi từ xóm Dưới qua xóm Giữa, đến xóm Ngoài, cậu chạy len lỏi qua các mảnh vườn thông thiên. Bí quá, cậu nhảy qua rào, đánh liều vào luôn nhà tôi: -Bọn địch đang truy đuổi em! Cha mẹ tôi bối rối, chưa biết xử trí thế nào thì cậu trèo tót ngay lên hai tấm phản gác trên hai cây phó giang, nằm bẹp xuống. Cậu thò cổ ra hiệu: bọn địch sắp đến! Quả vậy, chúng đập ngõ. Mẹ Cả tôi chạy ra mở cổng. Chúng kéo vào sân hỏi: Có thấy tên Việt Minh thấp lùn chạy vào đây không? Cha mẹ tôi làm bộ ngơ ngác, lắc đầu quầy quậy. Mẹ Cả tôi nhanh tắp pha trà Vân và bưng đĩa bánh rán ra mời chúng. Tình huống lúc đó thật vô cùng gay cấn. Dưới bàn trà, bọn địch vừa lau mồ hôi vừa nhí nhố, lấc láo nhìn khắp nhà và các gầm giường. Trên bộ ván ngay trên đầu là ông cậu đang nằm nín thở. Chỉ cần cha mẹ tôi sơ sẩy một tẹm hoặc cậu em bị hắt hơi, cựa mình một chút là tình huống sẽ khác. Khi địch đi khỏi, nghe chừng đã yên, cha tôi mới đỡ cậu em tụt xuống. Mẹ Cả tôi trách: -Cậu liều thật! Bằng giá giết anh chị! Cậu tủm tỉm cười trừ:
–Phải tin tưởng tuyệt đối vào ông anh bà chị chứ!
***
Năm 1982, Cha tôi tạ thế thọ 75 tuổi.
Nhớ lại ngày cha mất, chao ôi, biết bao khó khăn, nhọc nhằn, túng đói không thể nào tả nổi của thời kỳ hậu bao cấp. Hợp tác xã tập thể đang bắt đầu trên đà tan rã, nông nghiệp mất mùa liên miên; đời sống nông dân gần như cùng cực, điêu đứng; nông thôn chìm trong nghèo nàn, lạc hậu. Ngày cha ốm mà bồ thóc trống không, úp ngược trong xó buồng.
Cuộc đời cha về cuối như người qua sông lỡ đò, không biết được phía trước con đường. Người còn ôm một nỗi buồn gia thống vì khi đó tôi là trưởng nam vẫn chưa có đứa con trai. Mãi một năm sau Người không còn trên cõi thế, con trai tôi mới ra đời! Nhìn ánh mắt cha, tôi biết trong lòng ông còn nặng những nỗi niềm trắc ẩn, không nói thành lời. Mặc dù thường ngày, tôi không thấy cha tỏ vẻ sốt ruột về điều này. Khi vui đùa với các cháu, ông luôn bảo: Con nào cũng là con! Cháu nào cũng là cháu ông!
Sau cơn ho rũ rượi, cha tôi mệt lắng đi. Tôi bế cha đặt lại cho thế nằm thanh thản. Trên gối tay con, cha thều thào trong hơi thở ngắn: -Con ơi! Giữa trời giữa bể mất rồi! Ánh mắt chợt mở to sáng long lanh, người dặn tôi: -Thời nào thì thời, hãy ghi nhớ “Tích Thiện Đường” con nhé! Rồi người cố đọc được hai câu thơ:
Thông thần diệu thuật chung vô bổ
Thị Phật chân du biệt hữu phương!

(Tạm dịch: Mọi thần dược, diệu thuật đều thành vô bổ. Chỉ còn một phương cuối cùng nhìn về cửa Phật mà thôi!)
Đau đớn và thương tiếc, lúc đó tôi chỉ biết âm thầm gạt nước mắt: Cha ơi! Cha cố sống thêm chút nữa. Biết đâu sẽ được biết mặt đứa cháu nối dõi dòng Dương Phượng của cha? Biết đâu cha sẽ được thấy những gì của thời kiến quốc?

(CÒN NỮA KỲ SAU)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét