KÝ ỨC NGƯỜI CHA
Phần II- Gió đổi mùa.
Tiếng sấm Chiến
thắng Điện Biên phủ 1954 rung chuyển cả nước, vang động đến tận thôn cùng ngõ
hẻm. Người dân thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, phong kiến. Bầu trời, cánh
đồng, dòng sông ngập tràn nắng mới. Tất cả sáng láng, rực lên màu cở đỏ sao
vàng.
Bà nội tôi
mất. Sinh thời, cha tôi kể lúc đó tôi vừa lên bốn tuổi. Lo chu tất tang lễ xong,
cha lại chuyển sang buôn bán thuốc lào và hàng tạp hóa ở chợ Rừng thị trấn
Quảng Yên.
Cuộc cách mạng
Cải cách ruộng đất (1953-1956) phát động vào các miền quê, vào vùng làng đảo Hà
Nam
làm thay đổi hẳn không khí nông thôn và cuộc sống nông dân. Ruộng đất của mọi
nhà giàu lấy ra chia lại cho tất cả bần cố nông. Đại đa số bần cố nông có ruộng
cấy, trâu cày. Trong dân gian nói thì vùng quê tôi ngày ấy, hầu như không có
địa chủ cường hào gian ác, chủ yếu là.
họ chỉ nhiều ruộng Nhưng nhiều nhà giàu bị quy tố vào thành phần địa chủ
bỗng thành tay trắng, dở khóc dở mếu, thậm chí có những người cùng đường, bị
đẩy vào bi kịch.
Bên làng Cốc, ông Tổng Cung –một chánh tổng
sau thời cha tôi, chỉ vì nhiều ruộng, không tội tình gì cũng bị đấu tố kịch
liệt. Đội “Ba cùng” kết án, giam ông vào một chỗ, chờ treo cổ xử bắn. May quá,
có lệnh sửa sai, ông thoát chết. Sau này có dịp được tiếp xúc với cụ Tổng Cung,
tôi mới biết chuyện xử bắn hụt của cụ:
-Nhờ lệnh sửa
sai về kịp thời mà lão được sống lại! Song, ngôi nhà gỗ năm gian thì không còn,
đã bị tịch thu toàn bộ làm nhà Hội trường Chiến Thắng cho dân hội họp. Của đi
thay người. Được sống là tốt lắm rồi! Chỉ khổ cho một tay “đạo chích” dân làng
Cốc thường gọi là Em Nhèm, bị xử bắn trước đó...
Nhân vật Em Nhèm như cụ kể thì không là gì cả,
chỉ là một gã nghèo hèn xấu xí, mắt lèm nhèm bởi bệnh đau mắt hột. Nhưng Em
Nhèm ăn trộm vặt rất giỏi. Chỉ loáng cái nhà ai đó sểnh ra là mất trộm. Cả xóm
mất trộm. Cả làng mất trộm. Bắt được, tha, lại mất. Người mất con gà con qué,
người mất chiếc mâm thau, cái nồi đồng, mất nồi cơm vừa ruống, mất niêu cá bống
đang kho liu riu trên bếp... Để cho đủ chỉ tiêu, Đội hỏi: Bà con bần cố nông
xem còn ai đáng xử tử nữa không? Nhiều tiếng nhao nhao: Em Nhèm! Em Nhèm! Hay
bắn bỏ mẹ nó đi! Nó cũng là thằng bóc lột hạng nặng! Vậy là Em Nhèm bị bắt, trói
giật cánh khỉ, điệu ra sân đình. Còn ngơ ngác chửa hiểu gì thì những tiếng “đòm
đòm” đã bật lên! Ông Tổng Cung đang bị trói đợi đến lượt, bủn rủn chân tay chực
ngã khuỵu... Có lẽ cũng từ cái tích này nên đời sau nơi đây, những người bị mắc
oan, đổ vạ thường than thở: “Khổ lắm! Trăm tội đổ Em Nhèm!”
Cơn bão đấu
tranh giai cấp "Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ" ở vùng Hà
Nam
bất chấp thực tế và lý lẽ. Cũng như các nhà giàu, các thân hào chí sĩ khác, gia
đình cha tôi cũng bị xơ xác trong vòng bão đó. Ở nhà quê, mẹ Cả tôi cũng bị đội
cải cách quy địa chủ vì nhiều ruộng nhiều trâu (do từ thời bà nội để lại). Mẹ
Hai vội vã lén nhờ người đi chợ sang phố huyện nhắn cha đừng về kẻo Đội cải
cách sẽ lôi ra đình đấu tố. Ruộng đất, trâu cày bị phân tán, xé lẻ. Chiếc sân
gạch cũng bị đào tróc mất mấy hàng, vứt bỏ ngổn ngang. Bao nhiêu đồ đạc quý giá
trong ngôi nhà ngói năm gian của cha mẹ tôi bị tháo dỡ, chia chác đâu hết. Văn
tự ruộng đất, biên lai ủng hộ vàng và tờ sắc phong của vua Bảo Đại cũng bị rút
ra đốt mất. Cái “ống quyển” và chiếc hòm sắc bằng gỗ sơn đỏ bị ném chỏng chơ xó
nhà, còn lại, nay tôi vẫn giữ đặt trên bàn thờ. Chiếc tủ chè gỗ gụ khảm trai rất
đẹp cũng không biết biến đâu mất vào thiên hạ? Bộ chiếu xếp bằng gỗ trắc họ
khiêng ra đến ngõ chắc do nặng quá và chắc cũng đã chia cho một nông hộ nào đó
nhưng vì to quá, áng chừng không đặt nổi vào nhà gianh, nên họ bỏ lại ngoài
cổng ngõ. Mẹ tôi kể: Chỉ một mình mẹ cùng ông Ba Xâm (một người câm cha tôi
nuôi từ bé) dùng những đoạn gỗ tròn làm con lăn, kê và lăn dịch từng tí một mới
đem được vào nhà. Tay Bẩu, một “chuỗi rễ” trong Đội cải cách còn vận động, ép buộc
mẹ Hai tôi đấu tố mẹ Cả bằng những lời bịa đặt. Nhưng mẹ sợ hãi, không ra nhà
thờ họ. Hắn giằng co, kéo đi kéo lại mẹ Hai vẫn không chịu. Trong một gia đình
vợ cả vợ hai, không tránh khỏi những ghen tuông cùng những va chạm. Mẹ Cả cũng
từng có những đối xử coi thường, ganh ghét mẹ Hai, nhất là khi mẹ Hai tôi đến
thời kỳ CCRĐ cũng đã sinh liền cho cha tôi 3 cậu con trai. Nhưng mẹ Hai đã giữ
cho gia đình tôi không bị sa vào không khí đấu tố, chia rẽ đó.
Hai bức đại tự
“Thế Hữu Hưng” và“Thế Phả Dương Ba”
sơn son thiếp vàng treo quá cao sát trên mái nhà, người ta không trèo lên được
để tháo. Cha tôi kịp chạy từ phố về, ban đêm thuê đò dọc qua bến đò Chanh, chở
vội bức “Thế Phả Dương Ba” sang
Quảng Yên, gửi tạm trong nhà ông De Nụ ở phố Lê Lợi. Thời gian trôi nhanh. Mãi
đến năm 1982 phút lâm chung, cha mới dặn tôi: “Nhà ta còn một bức đại tự khắc
bốn chữ “Thế Phả Dương Ba” do
tay thầy viết thảo... Con sang Quảng Yên nói khó với người ta, xin về. Phải cố
mà giữ lấy kỷ vật của nhà ta…”. Tìm đến ngôi nhà cũ bên Quảng Yên, tôi không
sao cầm nổi nước mắt trước bức đại tự sơn son thếp vàng phủ bụi thời gian mang
bút tích của cha. Bốn chữ nho đẹp vô cùng, như bốn bồn cây xanh mướt trước mặt
tôi...
Đầu năm 1958,
cha tôi bỏ phố huyện về quê. Ngôi nhà làm cửa hàng ở cửa chợ Rừng vừa xây xong
cũng liền bị Đội cải tạo công thương nghiệp trưng thu. Cha tôi chợt tỉnh về cái
tát oan dành cho chị gái cả tôi khi chị can ngăn: Thầy đừng xây nhà nữa vì
người ta đang đánh vào tư sản, tiểu thương!... Ông đã mắng chị tôi:
-Ai cũng như
chúng mày thì lấy đâu ra phố xá? Tao xây nhà cửa bằng tiền chắt bóp từ mồ hôi
chứ có bóc lột của ai đâu mà sợ!...
***
Rồi đến thời
kỳ hợp tác hóa nông nghiệp, ruộng đất, nông cụ và nông dân vào “hợp tác xã” để
làm ăn tập thể, lấy công ăn điểm. Cha mẹ tôi được hạ thành phần xuống phú nông,
rồi trung nông. Ban vận động thành lập hợp tác xã đến tận ngõ đánh trống, thổi
kèn, hô khẩu hiệu: Cầm vàng còn sợ vàng rơi / Vào HTX đời đời ấm no! Nông dân
sẽ sung sướng như thiên đường!
Cha mẹ tôi thành
xã viên HTX Nông nghiệp Cẩm Tiến. Nhà tôi được phát những quyển sổ nhỏ. Quyển
để ghi theo dõi ngày công, ghi số lượng thóc được chia gọi là sổ Lao động. Quyển
ghi nghĩa vụ chăn nuôi, mua bán thực phẩm gọi là sổ Mua bán. Đi làm công việc
gì cũng nhận một mảnh giấy “biên lai” nghiệm thu và số điểm ứng theo. Chăn nuôi
lợn gà, được con nào cũng cân cho đủ nghĩa vụ được giao, thừa mới được bán với
giá cao hơn. Ngày giỗ, muốn có cân thịt lợn cúng gia tiên, người ta thường phải
tìm kế “giết chui” bằng cách đút đầu con lợn vào bao tro bếp cho nó sặc, chết
ngạt, mới đâm tiết để không phát ra tiếng kêu. Cán bộ “xâu xiên” rất thính tai;
tiếng lợn kêu ở đâu lọt ra ngoài, họ xuất hiện ngay tức, lập biên bản tịch thu tang
vật và đem chủ nhà ra kiểm điểm, phạt tiền, phạt thóc.
Có một chuyện
mỗi lần nhớ lại là mỗi lần cười ra nước mắt. Ấy là người anh con bà cô tôi làm
chủ nhiệm HTX, rồi chủ tịch xã... nghe chuyên gia Trung Quốc phổ biến và hướng
dẫn nấu cám cho lợn bằng... phân trâu! Họp dân làng lại, anh thao thao bất
tuyệt: Phân trâu là nhà máy chế biến tổng hợp thức ăn cho lợn. Đây là thứ vừa làm
sạch chuồng trại, vừa tiết kiệm cám bã... Các trại lợn tập thể phải gương mẫu
đi đầu! Cha tôi nghe vậy, tối đến nhà, gặp anh cháu, can ngăn: -Từ cổ chí kim
cậu chưa thấy ai nuôi lợn bằng cứt trâu. Chỉ có bây giờ là một. Sao anh lại
nghe người ta nói vậy, làm vậy? –Cậu ơi! Chuyện khoa học kỹ thuật, cậu cổ hủ
không nên can dự vào!
Chiến dịch
nhặt phân trâu, góp phân trâu vẫn tiến hành phát động. Hàng tấn phân được gom
lại thành từng đống tại sân kho. Những chảo phân được bắc lên kiềng, lên ba ông
đầu rau to ụ. Kẻ làm người nói xôn xao. Củi lửa cháy phừng phừng. Khói bay mù
mịt. Phân trâu trong chảo sôi ùng ục. Đang hăm hở, sốt ruột, mọi người bỗng bịt
mũi chạy dạt ra ngoài. Mùi ngái khẳm, mùi thối khét bốc ra lựng cả sân kho,
xông tỏa vào các nhà xung quanh. Mấy nhà đang ăn cơm cũng buông bát bỏ đũa chạy
đi. Phân trâu nấu chín được huy động khiêng vào dãy trại lợn tập thể, múc ra máng
trộn với rau khoai băm nhỏ cho lợn ăn. Bầy lợn háu ăn xộc mõm vào, rồi bất ngờ
hẩy đổ luôn các máng cám!
Rồi lại chuyện
cắt đuôi, cắt tai lợn và trâu cho chúng chóng lớn. Chuyện bón muối, đổ hàng tạ
muối xuống ruộng... Lúa bị nhiễm mặn chết héo rũ. Năm ấy ngày giỗ bà nội tôi,
không thấy anh cháu ló mặt về nhà cậu.
Chiến tranh
chống Mỹ nổ ra. Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người. Mỗi người
làm việc bằng hai. Hạt gạo chia ba. Tất cả đổ ra tiền tuyến để đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược! Năm 1964, giã biệt trường tiểu học Đình La, tôi vào học trường cấp
II-III Phong Hải (nay là trường THPT Minh Hà). Với năng khiếu kẻ vẽ và viết
bích báo hay, tôi được họa sĩ Vũ Tư Khang phát hiện, dìu dắt đi kẻ khẩu hiệu và
vẽ tranh cổ động. Nhà trường lại giới thiệu tôi vừa học vừa tham gia công tác
Ban Văn hóa Thông tin ở địa phương. Cũng từ đó tôi bước vào nghiệp thơ phú văn
chương và “thổi tù và hàng tổng” xông xáo trên các công trường thủy lợi, đắp đê
biển.
Chiến tranh kết
thúc. Trai làng trở về. Kẻ còn người mất. Lòng cha mẹ đã ấm lại. Nhà cửa bình
yên cùng thiên hạ. Những tưởng cuộc sống sẽ đi lên phơi phới trong khung cảnh
hoà bình, thống nhất non sông. Những tưởng bao câu khẩu hiệu tung hô rầm rĩ, tá
loả một thời sẽ bền vững với thời gian. Nhưng không ngờ kinh tế HTX lại ngày
càng xuống cấp trong cảnh cha chạ không ai khóc. Từ chỗ được chia một, hai cân
thóc, mỗi công lao động tụt xuống chỉ còn nửa ký, rồi ba lạng… Cán bộ bớt xén
công quỹ. Xã viên mạnh ai nấy vơ. Mấy bà hàng xóm đi lấy rơm trâu cuộn từng mớ
thóc cho vào gánh, vào xe cải tiến, về nhà rũ lại được hàng thúng. Mẹ tôi thực
thà cứ thế rũ rơm sạch tại sân kho. Thực thà ăn cháo, bố láo ăn cơm! Hạt cơm nhà
tôi cõng ba miếng sắn, miếng khoai khô. Cả nhà xì xụp quanh mâm cháo, rổ rau. Đàn
con cháu nheo nhóc dây bí dây bầu. Đám trẻ trong làng vẫn lơ ngơ. Tối đến,
những đêm trăng chúng tôi lại kéo nhau ra các khúc sông, sân kho hò hát tưng
bừng, quên cả đói.
Mẹ tôi xin
được những chiếc màn cũ, màn rách của các chị tôi bên phố huyện Quảng Yên đem
về cắt lại, vá víu, rồi chẻ tre uốn gọng, làm được hơn năm chục chiếc vó cho
anh em tôi đi cất tép. Sao mai chưa mọc, anh em tôi đã dậy vai gánh vó, tay
xách ống bơ đựng thính cám do mẹ đã rang sẵn, ra đồng. Chúng tôi thả vó xuống
dọc các ven sông. Mỗi lần cất vó lên được hàng bát tép. Chao ôi! Ngày ấy sông
ngòi đồng quê sao mà lắm tép thế. Chỉ cần sơ cây gậy xuống mặt nước, tép đã
nhảy lúa xúa tựa sao sa. Chiều chiều, chúng tôi mang hàng giỏ tép về cho mẹ đem
ra chợ bán, đong ngô, đổi khoai hoặc mua sách bút. Cha không quên bớt lại một
bát để rang, nhào với rau muống luộc làm món lộm tép, nhiều khi ăn trừ bữa thay
cơm...
***
Nhà tôi dạo ấy
còn lại khoảng hơn năm sào gồm đất ở, đất vườn và “ruộng phần trăm”. Xung quanh
phía tây vườn là bờ tre dây, một loài tre thân nhỏ và dẻo do cha kỳ công mang
giống bên Thủy nguyên về trồng. Giống tre này lên rất nhanh, chả mấy khi trùm
bao bọc xanh tốt như lũy như thành. Dân xóm sang xin về chẻ lạt khi buộc bó mạ
xuống đồng, lúc gói chiếc bánh chưng ngày tết. Trước cửa nhà, cha đào một cái
ao khá rộng để nuôi cá và trữ nước tưới cây. Cha xuống nông trường Tiền Phong
dưới Đầm Bầu cực nam vùng làng đảo mua giống cá rô phi, cá trắm về nuôi. Cá
sinh sôi nẩy nở, lên đớp mồi dày đặc. Mặt ao như nồi cơm đang sôi. Một trạm vó
được dựng trên bờ, vươn cần thả vuông
lưới xuống mặt ao. Mỗi lần nhấc lên, cá nhảy lao xao. Cái ao thuần thục đất và
nước bắt đầu xuất hiện nhiều lươn và ốc bươu. Cha sang cả Yên Trì mua lờ về đơm
lươn. Cơm làm ruộng, cá kiếm ăn. Cha tôi đã từng bước cải thiện bữa cơm gia
đình bằng chính nguồn lao động tăng gia thức khuya dậy sớm.
Để khắc phục
kinh tế và tạo nguồn công việc lâu dài, những ngày tám tháng ba đói kém là vậy,
cha mẹ tôi vẫn thuê một con thuyền lẵng gỗ ra tận sông Cái Nứa, Tổ Ác trong
đồng lặn xuống móc bùn. Bùn móc lên đầy thuyền, được chở vào bến Cửa Lũy, lại
hì hụi gánh về đổ dâng những thửa ruộng thành vườn. Vừa đói vừa mệt. Cha tôi
cởi áo vắt kiệt mồ hôi, lại mặc vào khỏi nắng đốt cháy lưng. Mẹ tôi nấu nồi
cháo bắc ra khỏi bếp cho nguội để cả nhà cùng húp. Nhiều hôm chỉ húp bát canh
rau đay nấu tép đỡ lòng, hoặc ăn bát củ chuối hột luộc thái nhỏ trộn ruột con
quéo...
Dân làng thấy
“ông bà Tổng” kỳ quẹo gánh bùn, người tấm tắc khâm phục, kẻ lắc đầu, mai mỉa...
Kiến tha lâu đầy lỗ. Bùn lỏng khô dần. Quay đi quay lại mấy sào vườn đã hình
thành. Cha đi các nơi Thanh Hà, Đoan Hùng lấy giống cam bưởi, vải thiều, mía...
về trồng. Cha còn gây giống các loại rau răm, rau húng, rau mùi, cần tây, hoa
huệ... trồng trên các luống đều đặn và thẳng tắp. Trong khi chờ đợi các loại
cây ăn quả bén gốc, đơm hoa, cha mẹ còn đem cả lúa cấy xen canh trên những mảng
đất bùn. Lúa cấy trên cạn, khát nước như người, phải gánh nước về tưới cả đêm.
Có vụ, đêm chuột vào phá, sáng ra vương đầy những gié lúa! Cha phải cột con mèo
bên cạnh, hoặc thức gõ chậu thau xua chúng đến tận gà gáy!
Bùn dưới đáy
sông đưa lên ánh sáng, khô dần thành đất. Đất giở mình nạp lấy mồ hôi lắng đọng
độ phì. Cây gặp đất tốt, mọc nhanh như mơ. Khu vườn xum xuê hoa trái. Mùa nào
thức ấy. Bóng cây mát rượi, hương quả hương hoa thoảng thơm không gian. Các
loài chim, cò tự nhiên ở đâu bay về đậu và làm tổ chi chít trên ngọn tre dây.
Anh em tôi từng được móc những ổ trứng chim, bắt những chú cò non xuống lòng
bàn tay, rất thích thú. Tôi hỏi cha: -Sao dạo này chim cò về nhà mình lắm thế
cha nhỉ?
–Đấy là do mùi
bùn, mùi mồ hôi. Do hoa thơm, quả ngọt đấy con ạ!...
Những cây bưởi
trồng trên đất vườn nhà tôi cho nhiều mùa trái ngọt. Tháng giêng hai, hoa bưởi
đơm chi chít những chùm cúc trắng, tỏa hương ngào ngạt. Tháng chín tháng mười,
trái đơm trĩu trịt đầy cành, nhuốm vàng thơm sắc nắng cuối thu. Những cây bưởi
chiết cành từ cây gốc, trồng năm trước, năm sau đã cho quả la đà mặt đất. Cha
ngắt những trái to tròn đầu mùa đặt lên bàn thờ thắp hương. Ông cũng không quên
biếu các bậc cha chú trong chi ổ. Phiên chợ Đông năm ngày họp một lần, mẹ tôi
lại được một hai gánh lên chợ bán. Dân các làng mua bưởi về ai cũng khen giống
bưởi ngon và quý. Mấy ông cán bộ xã thường đến nhà giả đò mua, cha cũng làm quà
gọi là cây nhà lá vườn, chả lấy tiền ai. Nhất là tay Hân trưởng trạm y tế, cùng
một tay thầy giáo làng, mùa bưởi chín ngày nào cũng đáo qua làm vài điếu thuốc
lào, dăm ba chén nước. Mang mấy câu chuyện làm quà đến, lại được cha tôi ngắt
bưởi xuống, bổ ra. Họ vừa bóc những múi bưởi hồng vừa khen mấy câu ngọt lịm...
Gian nhà trong mẹ tôi đang ngồi võng ru cháu ngủ, bà hất mấy câu ca: Châu
chấu thấy lửa bò vào... Cào cào thấy lửa bò ra...
Thế rồi... Một
cơn bão mất đất khác lại tràn vào gia đình, vào nửa cuộc đời còn lại của cha
tôi...
(Còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét