Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

KÝ ỨC NGƯỜI CHA -Phần VII-Tri kỷ tri âm






KÝ ỨC NGƯỜI CHA

VII-Tri kỷ tri âm


Bằng hữu của cha tôi, có nhiều người tâm giao, tri kỷ tri âm. Tình cảm của họ đối với cha tôi thật chân thành, cao thượng. Họ ở các thôn làng trong vùng. Họ ở cả những nơi xa cách đò cách sông. Họ thường đến nhà nhau chia sẻ nỗi niềm, những buồn vui, được mất. Họ lặng thầm nén lại những u uẩn, trái ngang khó lý giải, bởi dẫu có trí phú, hào dịch gì chăng nữa họ vẫn là những người xuất thân từ nông dân một nắng hai sương, thật thà, chân mộc như củ khoai hạt lúa. Họ là sản phẩm cuối cùng phơi ra của nền văn minh lúa nước thời đại nhiều giông bão khép dưới lũy tre làng. Cụ Nguyễn Văn Phong (tức Tiên Phong) ở Trung Bản là con trai cụ cử nhân Nguyễn Huy Hách, người đậu khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn chấm dứt vào năm 1919 đời vua Khải Định. Cụ Lê Văn Cung, (Lý Cung, Tổng Cung), cụ Lý Nghị, Bùi Nung, Cần Ất... ở Phong Hải. Cụ Thứ Bằng, Vệ Kiểm, Xã Đối... ở Phong Cốc. Cụ Thủy Bạch, Tiên Mai... ở Yên Đông. Cụ Đa Thành, Vạn Tín, cụ Chanh hiệu vàng bên phố huyện Quảng Yên...
Mỗi lần có khách đến nhà, tôi lại cùng ông Ba Xâm vào chân nấu nước, rửa tích chén, pha trà. Cha và các bạn cha rất chuộng món trà Vân Hải, thường gọi là chè Vân. Trà Vân cộng nhỏ, màu nâu đen, vị ngọt, thơm đậm, uống rất mềm lòng và dễ chịu. Trà mua của bà Lý Nuốm mới ngon vì bà có cách sao trà và ủ rất khéo. Khách uống quen, bà mang đến tận nhà. Không chỉ khéo mời, nụ cười, vạt áo thoảng thơm hương trà, mà bà còn bảo cách ủ trà, xen vào những mẩu chuyện hài hước rất vui... Trà mua về, cha tôi đựng trong lọ lộc bình nhỏ, nút lá chuối khô. Khi pha cho thêm một hai bông hoa nhài hoặc hoa sói vào, hoặc trước đó một hai ngày lấy giấy bản bọc quả chuối lá chín lốm đốm trứng cuốc đặt trên mặt trà trong lọ. Ấm trà rót ra đặc sánh, mùi thơm lan toả lẫn vị dầu chuối, uống đến đâu ngấm đến đấy những tinh chất của trời đất, của gió biển vùng Vân Hải. Nhất là buổi sáng, uống trà Vân, ăn với bánh rán làng Cốc giòn kháy, thú vị vô cùng!
Những ngày HTX, tuy khó khăn túng thiếu, thỉnh thoảng dưới mái ngôi nhà gỗ cổ vẫn ấm áp không khí tình bạn của các bạn hữu của cha từ các nơi lui tới thăm hỏi và đàm đạo văn chương. Tôi lại đứng chắp tay bên bàn hoặc bên chiếu hầu nước, hầu rượu. Hồi ấy các cụ ta uống rượu quả thật là phong thái lắm, không như ta bây giờ uống rượu cứ ào ào như nước cuốn, như ma vội sáng. Trà vậy, tửu vậy, họ nâng chén lên một cách từ tốn bằng hai bàn tay lồng chụm lại, rồi kéo đầu tay áo che kín chiếc chén mới nhấp từng ngụm một, sau đánh tiếng khà, hạ chén. Lời nói khiêm nhường mà thâm thúy. Câu thơ ngân nga diễn cảm. Sau mỗi câu hay lại vỗ đùi hưởng ứng. Bữa rượu kéo dài, có hôm tới khuya. Lắm bận rượu dốc bình, trà đã nhạt nước mà sao tình văn nhân vẫn nồng đậm lạ lùng!
Những đêm trăng sáng thật thú vị. Cha tôi rải chiếu trên sân, bày khay chén đợi sẵn. Tôi đun nước bằng rơm hoặc củi. Nước sôi, cha dạy phải rót một vài giọt xuống đất mới rót vào ấm tích. Ấm tích lại ủ trong chiếc giỏ tre gọi là cái “giành phình”, giữ cho trà nóng, thơm lâu. Bây giờ, mỗi lần nhớ lại sao thèm cái không khí tao đàn ngày xa đến thế!
Ông Trương Nhất là một trong những người để lại trong tâm trí tôi nhiều ấn tượng. Ông làm nghề lái bè. Đi tận Ba Chẽ, Tiên Yên khai thác. Cứ sau mỗi kỳ nước kém, đậu bè vào bến Cống Mương, về nghỉ, ông lại tìm đến với cha tôi như một sự phải lòng. Ông thường hay mặc chiếc áo “ba đờ xuy”màu đen bằng nỉ dạ, dài quá gối, trông rất oai vệ. Gương mặt chữ điền, ông hay cười khoe chiếc răng vàng lóng lánh. Ánh mắt sáng, tinh anh. Mỗi khi ông đến nhà, tôi lại nhớ tới dáng hình những chiến sĩ bạch vệ trong tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy hoặc Rừng thẳm tuyết dày… mà chúng tôi hay đọc ngấu nghiến. Ông rất vui tính, song nghiêm khắc và cũng rất “nóng như lửa”. Hồi trẻ ông từng cẩm cổ áo tay bang tá đồn Cống Mương và rũ hắn xuống đất khi hắn nghênh ngang bắt một cụ già thượng thọ tám mươi tuổi phải bẩm chào hắn. Hắn cố tình không biết dân vùng này đối với các bậc đại lão tám mươi là mọi người bất kỳ ai cũng phải tôn trọng, cung kính bái chào. Ông Trương Nhất đã cho hắn hiểu thế nào là lễ độ của dân Hà Nam để biết đường mà ăn ở với dân.
Năm giỗ cụ Lễ, tức bà nội tôi, vào dịp tháng mười, thời bao cấp cấm đoán giết lợn, phân phối từng mét vải, lạng đường, cân thịt. Cha tôi đang băn khoăn chưa biết lấy gì làm cỗ trước là để cúng mẹ, sau là tiếp họ hàng gia ổ và khách khứa. Đêm ấy, ông Trương Nhất bí mật khiêng hẳn vào sân một rổ thịt lớn do ông bịt gio chọc tiết con lợn năm mươi ký ở nhà. Vậy mà tay xâu xiên vẫn phát hiện ra. Hắn báo dân quân đến, lập biên bản và bắt cha tôi ký nhận tang vật. Cha tôi đang cầm bút định ký vào tờ giấy viết những dòng chữ lằng ngoằng, thì chợt ông Trương Nhất giằng phắt chiếc bút quẳng ra xa:
-Bác không phải ký! Để em xử thằng này! Rồi ông trỏ mặt tay xâu xiên: -Mày là hạng con cháu mà dám láo với các cha bác. Chẳng gì anh tao đây cũng là hàng Lý trưởng, Chánh tổng. Vuốt mặt phải nể mũi chứ! Chẳng qua do thời thế mà nhà mày từ con đĩ nhảy lên làm bà! Ít nhất mày cũng phải hiểu thế nào là lễ, là giỗ. Nén hương còn đang cháy. Làm gì thì cũng phải để qua ngày giỗ mẹ chúng tao xong! Người âm sẽ vặt cổ mày…
Rồi đánh thoắt, ông tương luôn một quả đấm vào mặt hắn.
Sau chuyện đó, xã phạt cha tôi bao nhiêu là thóc, trừ vào phương án ăn chia của HTX!
Nóng tính như vậy, nhưng ông Trương ăn ở với mọi người rất tình cảm, ngay thẳng và sòng phẳng. Ông cũng là một cao thủ chơi “tổ tôm” lừng danh, chơi đẹp và quân tử! Thấy người nghèo khó là giúp đỡ, cho vay không nhớ đòi, ai nhớ thì trả, tùy nghi. Nhà nào có việc như giỗ chạp, tang lễ, cưới hỏi mà mời được ông đến coi như  vinh hạnh lắm. Gia nhân xun xoe chắp tay đón tiếp. Chủ nhà cầm tay mời chiếu trên. Nhưng ông luôn cười mà gạt đi: Thôi! Thôi! Ngồi đâu cao đó. Ta là anh em cả. Ông lại nhắc tới cha tôi: Ta tép riu, sao bằng bác Tổng được. Các chú đừng  làm thế!
Ông đã lặng lẽ học hỏi đức khiêm nhường của cha tôi!
***
Hồi tôi đang học cấp II, cha tôi từng tiếp và nuôi hai ông giáo sư hay Tiến sĩ gì đó ở Viện Sử học trên Hà Nội về quê tôi nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển nông thôn Hà Nam. Các ông ấy đi khắp nơi “Tứ xã” thượng tổng và xuống vùng hạ tổng hỏi han, ghi chép, dịch thuật các bức đại tự, câu đối, các tấm bia đá trong các nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo… Đêm đêm các ông và cha tôi lại ngồi đàm đạo tới tận khuya. Cha tôi đã cung cấp cho họ nhiều câu chuyện và những tư liệu quý, về những bản hán nôm của các thư tịch, văn bia cổ còn tồn tại ở đây. Cha còn dịch thuật, hiệu đính giúp họ nhiều văn bản và giải thích sáng tỏ nhiều điển tích. Tôi bên cạnh hầu nước, đã nghe lỏm được nhiều chuyện và lúc đi học lại đem ra kể cho bạn bè biết xuất xứ quê mình ở đâu. Tôi còn chép được những trang bản thảo của họ với ý nghĩ sẽ để làm tư liệu nghiên cứu sau này, biết đâu sẽ có dịp dùng đến.
Hồi ấy các ông là người nhà nước đi công tác có chế độ tem phiếu đầy đủ. Nhưng khi chia tay, cha tôi không hề cầm bất cứ một tờ phiếu hay một đồng bạc nào của họ. Cha bảo:
-Thêm bát thêm đũa cho vui cảnh nhà thôi mà. Các chú để mà dùng với nhà nước. Chứ tôi có cầm những tờ này cũng chả biết để làm gì. Thôi, các chú về đến đây với tôi là quý hóa lắm! Một ngày là nghĩa, chuyến đò nên quen!
***
Tầng lớp nghèo khổ trong làng xã, phải kể tới ông Ngộ Thuận. Ông cũng chẳng ngộ lắm đâu, nhưng bởi nhà nghèo, thực thà như đếm và cũng chỉ hơi đờ đẫn lơ ngơ. Ông vẫn đi cắt tóc rong với một tay xách chiếc hòm con đựng đồ nghề, một tay xách chiếc ghế gấp căng vải. Đến đâu gặp người cắt tóc là ông ngả ghế, mở hòm lấy  tông đơ, kéo, dao cạo phục vụ ngay tại chỗ. Ông thường vào các thôn cùng ngõ hẻm. Chủ yếu là trẻ con hay cắt. Tiếng rao: “Cắt... tóc.. đơi...” trầm trầm ngân lên, kéo dài. Các bà các chị lại bế trẻ con ra đợi đến lượt. Ông cắt rất ngon và chính xác. Cắt trụi như sư. Cắt để trái đào. Cắt để chỏm. Ông đều thuộc cả và đưa tông đơ ăn tóc rất nhẹ nhàng. Lại thêm khéo nựng, khéo dỗ trẻ. Nên cứ thấy bóng ông là bọn trẻ đã nhao nhao: Cháu chào ông Ngộ Thuận! Chúng gọi ông là Ngộ Thuận, ông chỉ cười và vẫy vẫy chúng, trông ngớ ngẩn buồn cười.
Ngộ Thuận cũng từng ba sống bảy chết. Thuở còn nhỏ, đâu năm hay sáu tuổi gì đó, chú bé Thuận bị cảm, mắc thương hàn, miệng mửa trôn tháo. Chả có thuốc thang gì ngoài nắm lá nhọ nồi bà mẹ vò đúc cho uống. Đêm ấy, Thuận nguột đi. Bà mẹ sờ thấy con lạnh toát. Hàng xóm đổ sang. Số nó không làm người nữa rồi! Ai nhanh chân chạy báo lý trưởng ngay! Người ta vội vàng bó chiếu. Dân xóm đặt xác Thuận buộc chiếu ngoài đầu chái hè bên cạnh bó đóm tre chờ gọi người đào huyệt đem đi chôn.
Lúc cha tôi ra đi giải vào, như người xui thế nào ấy, ông đến sờ, định xoắn lại các mối lạt thì thấy tự dưng bó chiếu khẽ cựa. Ông nhìn kỹ, chợt kêu lên: Hãy còn thở! Mau! Cởi lạt ra ngay! Vậy là chú bé Thuận được cứu sống!
Cắt tóc cho cha tôi, nhiều khi liệu cơ giả đò ra chum lấy gáo dừa múc nước lã uống, Ngộ Thuận lẳng lặng xách hòm đồ đi lúc nào không biết. Cha lại cho Ba Xâm cầm tiền cùng mấy quả chanh, quả na vào tận nhà, bắt phải nhận. Có lần ăn giỗ ở một nhà giàu ở xóm Trong, ngồi trên chiếu giáp ban thờ, cha tôi nhìn thấy Ngộ Thuận bị xếp ngồi chiếu trẻ con phía cuối sân. Ông vội buông bát đứng dây. Người nhà hoảng hốt chưa hiểu việc gì thì cha đã cầm tay Ngộ Thuận ấn xuống chỗ ngồi bên cạnh:
-Chú ngồi đây với chúng tôi! Ông còn pha trò: Chắc đi muộn, sợ trâu chậm uống nước đục đấy à? Chỗ người lớn không ngồi ai lại đi tranh phần của trẻ! Nào cả nhà ta cùng ăn cho vui!
Ngày cha tôi vườn đất bị thu, ông Ngộ Thuận ở đâu chạy vào. Đến sân, ông sụp xuống, khóc rống: -Ối anh ơi! Chúng họ lấy đất... của nhà anh ư? Anh chị công lênh bảy chìm ba nổi... mà người ta nỡ cắt... nỡ hoạn thật ư?
Cha tôi đỡ ông đứng dậy: -Vườn đất nhà anh mất rồi chú ạ! Ngộ Thuận quắc mắt: -Đứa nào dám đến phá vườn phá đất nhà anh? Để em! Nhanh như cắt, ông mở hòm đồ lấy ra con dao cạo sắc nhánh: Anh để em, để em! Thằng nào dể anh?
Cha tôi sợ quá, vội ngọt nhạt lựa lời khuyên giải và giằng được con dao:
-Ấy chết! Khoan đã! Chú không được làm thế. Làm thế là chú giết cả nhà anh! Họ lấy tạm để trồng cây thuốc rồi họ lại trả thôi mà! Của đi thay người. Còn người là còn của! Thôi! Cốt anh em mình mạnh khỏe đã chú. Cứ bình tĩnh mà đi làm đi! Mọi sự đã có Giời...
***
Đến đây, tôi lại nhớ những đôi câu đối các bậc bằng hữu của cha viếng Người trong ngày tang lễ:
Đào động ẩn tiên ông, mây bạc biết đâu tìm dấu cũ
Cẩm đình thám cố lão, quyển vàng gác để nhớ người xưa!
Tôi đâu biết thấu được khát vọng của cha, khi sắp hóa thân rồi, Người vẫn còn mong:  Gác quyển sách bảy mươi nhăm năm bên gối
Cha về với cỏ với đồng xanh
Bên mộ cha con nhớ trồng cây ổi
Cho trẻ con thả chí đến rung cành!
Cha! Người -cánh chim của Đồng quê bay qua vòm trời chỉ còn lại tiếng!


                                                                                    20-8-2013


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét