KÝ ỨC NGƯỜI CHA
- Phần VI- Giữ lấy nguồn cội
BỘ CỬA GỖ DỔI HƠN TRĂM NĂM VÀ CHIẾC HÒM SẮC CỦA CHA TÔI CÒN SÓT LẠI
Năm
1982, Cha tôi tạ thế, thọ 75 tuổi.
Nhớ lại ngày
cha mất. Chao ôi, biết bao khó khăn, nhọc nhằn, túng đói không thể nào tả nổi
của thời kỳ hậu bao cấp. Hợp tác xã tập thể đang bắt đầu trên đà rệu rã. Nông
nghiệp mất mùa liên miên. Ruộng đất vẫn cày chùi bừa gãi. Máy cày vào ruộng nay
sa lầy, mai trụt bánh. Khu Hậu Hương có cây cầu Lò Gạch bắc qua mương bắng bốn
cây cột điện đã lỗ chỗ bong bê tông, trơ săt han rỉ. Bởi sức ép của cán bộ quản
trị phải cày xong xứ đồng Cây Tre để báo cáo thành tích, chiếc máy cày do một
công nhân người Đông Triều điều khiển khi chạy trên thanh cột điện đã bị sập
cầu, ngã chổng kềnh xuống mương nước. Tay công
nhân chết ngạt trong ca bin, ngày hôm sau phải phá ca bin mới móc lên được.
Đàn trâu trong
các đội sản xuất mỗi ngày một hao hụt, con phát cước chết rét, con bị gầy yếu ốm
sệp, con bị tỉa bán chui cho “ba toa”. Trại lợn tập thể liên tiếp sập chuồng đổ
mái. Đánh rắm thối chạ. Thóc trong kho tự nhiên sụt mớn toang hoảng. Kế toán
nghi ngờ thủ kho. Thủ kho đổ vạ đội trưởng. Sanh không lỗ cá đi đằng nào, chẳng
ai hay! Đời sống nông dân gần như cùng cực, điêu đứng. Làng xã chìm trong nghèo
nàn, lạc hậu. Ngày cha ốm mà bồ thóc trống không, úp ngược trong xó buồng. Ngôi
nhà vắng từ cả tiếng chuột kêu...
Cuộc đời cha tôi
về cuối như người qua sông lỡ đò, không biết được phía trước con đường. Người
còn ôm một nỗi buồn gia thống vì khi đó tôi là trưởng nam vẫn chưa có đứa con
trai. Mãi một năm sau Người không còn trên cõi thế, con trai tôi mới ra đời!
Nhìn ánh mắt cha, tôi biết trong lòng ông còn nặng trĩu những nỗi niềm trắc ẩn,
không nói thành lời. Mặc dù thường ngày, tôi không thấy cha tỏ vẻ sốt ruột về
điều này. Khi vui đùa với các cháu, ông luôn bảo: Con nào cũng là con! Cháu nào
cũng là cháu ông!
Sau cơn ho rũ
rượi, cha tôi mệt lắng đi. Tôi bế cha đặt lại cho thế nằm thanh thản. Trên gối
tay con, cha thều thào trong hơi thở ngắn: -Con ơi! Giữa trời giữa bể mất rồi!
Ánh mắt chợt mở to sáng long lanh, người dặn tôi:
-Thời nào thì
thời, hãy ghi nhớ “Tích Thiện Đường” con nhé! Rồi người cố đọc được hai câu
thơ:
Thông thần diệu thuật chung vô bổ
Thị Phật chân du biệt hữu phương!
(Tạm
dịch: Mọi thần dược, diệu thuật đều thành
vô bổ. Chỉ còn một phương cuối cùng nhìn về cửa Phật mà thôi!)
Đau đớn và
thương tiếc, lúc đó tôi chỉ biết gạt nước mắt: Cha ơi! Cha cố sống thêm chút
nữa. Biết đâu sẽ được biết mặt đứa cháu nối dõi dòng Dương Phượng của cha? Biết
đâu cha sẽ được thấy những gì của thời kiến quốc?
***
Năm Nhâm Thìn
2013. Hôm khánh thành nhà mới, ngắm nhìn ba gian cốt gỗ lim cổ được phục dựng
nguyên bản và nhuận sắc mỹ thuật, lòng tôi lại nôn nao nỗi nhớ hình bóng cha
tôi. Như vẫn còn đó ngồi kia trên bộ tràng kỷ. Chiếc bóng hao gầy thầm lặng bên
cạnh ngọn đèn dầu hỏa. Tay lần giở, đọc từng
trang sách. Tôi liên tưởng Người như một vị Đại đức đang giảng Kinh, giọng trầm
và sang, nghiêng động cả một miền tâm thức. Thắp nén nhang, đội những cuốn
sách-những tác phẩm thơ văn của tôi đã xuất bản trên đầu, tôi bái lạy lên cha:
-Kính lạy cha!
Con đã làm được việc mà cha suốt đời âm thầm khát vọng: Ở lại quê hương xây
dựng gia đình, xây dựng tiếp sự nghiệp gia thất để kế thừa những gì cha còn
dang dở. Ngôi nhà của Tổ tiên bao đời đã được tu tạo, xây cất mới trên nền móng
nguồn cội của cha mẹ! Sự nghiệp văn chương của con cũng đã phần nào đạt được
những thành tựu. Mong cha mẹ phù hộ cho cháu con vạn phúc, phù hộ cho con tiếp
tục gặt hái được những thành công mới trong sự nghiệp mà con đã trót đa mang!
Chính cũng từ
ý nghĩa của sự kiện trọng đại này của đời tôi với cha mà tôi quyết định tổ chức
Ngày Thơ Cánh Đồng &Ngọn Lửa của tôi cùng vào ngày tân gia. Bạn bè tôi từ
các nơi về dự rất đông vui. Họ mừng, họ chia sẻ niềm vui với vợ chồng tôi.
Nhưng họ không thể nào ngờ đằng sau đấy: tôi như người kéo màn vừa khép lại một
tấn bi kịch của cha tôi trên sân khấu cuộc đời. Tôi làm mới lại ngôi nhà cổ của
cha tôi kế thừa và để lại vào năm tuổi sáu ba. Sáu mươi ba năm sinh ra, lớn lên
và trưởng thành trên đất tổ tiên tạo dựng, trên cơ nghiệp cham mẹ tôi năm chìm
bảy nổi, tôi mới đặt xong một nét gạch nối, nối tiếp gia phong của gia đình tôi.
Nên gia ổ nhà tôi ai cũng mừng cho những nghĩ suy, quyết định và hành xử chín
chắn của tôi về cơ nghiệp kế thừa này...
Có thời gian,
vì nông cạn và nóng vội, háo hức của sức vóc con chim bay ràng muốn sổ lồng bay
nhảy, tôi đã từng trách cha tôi. Tôi cho rằng cha đã là người không chịu mở cửa
cho tôi khi ông cố tìm mọi cách giữ chân con trai lớn ở lại quê nhà, không cho
đi học Đại học báo chí. Cha đã đóng cánh cổng ngõ lại bằng chữ Nhẫn, chữ Nhân! Thêm
nữa có thể cha đã nghĩ tiêu cực về sự học của con trai, có học cao cũng chẳng
làm gì, cũng chẳng nên ông nọ bà kia. Sau này nhiều năm, tôi mới hiểu ra nỗi
đau của ông. Cha đã ngầm đau chuyện địa phương họ mặc cảm lý lịch với tôi. Nào
là con nhà địa chủ, nào là con ông Lý, ông Tổng v.v và v.v... Bởi ngay trong số
cán bộ địa phương, trong đó có anh con cô con cậu, rồi anh con dì con bá bên mẹ
Cả tôi thay nhau làm chủ tịch, phó chủ tịch xã đã phê những điều không tốt đẹp
gì vào lý lịch của các chị gái tôi. Chị gái thứ năm trên tôi đậu cử nhân, bươn
trải hết nơi này nơi khác, phấn đấu mãi mới được vào Đoàn. Đến thời gian sau
Đại thắng mùa xuân 1975, chuyển vào TP Hồ Chí Minh công tác, nhờ công cuộc Đổi
Mới, 56 tuổi đời chị tôi mới được kết nạp Đảng.
Đầu những năm
1970, ông Hoàng Đông chủ nhiệm HTX vận tải Đại Thành gặp tôi hoạt động văn hóa
thông tin trên công trường khai hoang lấn biển đắp đê Cái Dâu (nay là phường Hà
An). Để ý, biết khả năng kẻ vẽ và viết báo, sáng tác thơ ca của tôi, ông định
tuyển tôi sang cơ quan của ông làm việc ở Ban Văn hóa tuyên truyền. Nghe ông,
tôi nộp đơn và hồ sơ. Ông cùng tôi đến làm việc với UBHC xã. Nhưng bà chủ tịch
xã đã kiên quyết không ký đơn, với lý do: xã cũng đang cần cán bộ làm văn hóa
tuyên truyền. Nhưng, đấy chỉ là cái cớ, một lý do không đáng kể...
Trong thâm
tâm, một phần cha cũng muốn cho tôi bay nhảy để có cơ hội thoát khỏi vòng đê,
để học hành, thăng tiến. Nhưng một phần ông lại muốn con trai trưởng phải ở lại
sau này còn lo việc hương khói tổ tiên. Vì tôi không chỉ là con trưởng của gia
đình, mà còn đứng đầu cả một chi ổ lớn trong dòng họ. Cha vẫn cố gắng cầm chân
tôi. Cha vẫn hy vọng: Sông có khúc, sẽ có lúc chảy vòng lại! Nhưng cha tôi đã
nhầm, một sự nhầm lẫn mà cha không hề biết hay cha cố ý chấp nhận: Cha ngồi vào
bàn cờ đời, bị thua trắng bởi tại ngay chính đức độ của mình!
Năm 1978, tôi sang làm việc tại Phòng Văn hóa Thông
tin huyện, với công việc chuyên viết tin và vẽ tranh cổ động. Cha vẫn vận động
người khác lay chuyển tôi quay về. Giai đoạn này, nhà tôi đang lâm vào hoàn
cảnh khó khăn, đói kém, đói ghê gớm. Râu tóc nham nhở, cha tôi suy sụp hẳn đi.
Em trai dưới tôi học Trung cấp mỏ, ra Cẩm Phả làm công nhân, lấy vợ. Mẹ tôi
phải ra theo để trông nom các cháu. Em kế nữa theo chị gái thứ ba vào Sài Gòn,
rồi đi Thanh niên xung phong chiến dịch Bảo vệ biên giới Tây Nam. Em út nhập ngũ, lính chiến
dịch “bảo vệ biên giới phía bắc”, sau cũng về làm công nhân ở Cẩm Phả. Nhà tôi
bắt đầu từng bước tan đàn sẻ nghé, nhưng cũng là chia bớt miệng ăn khỏi chiếc
mâm gỗ mỗi ngày thêm sứt mẻ. Các em tôi được ăn theo gạo mậu dịch, thỉnh thoảng
lại gửi năm nắm ba mớ về quê “cấp cứu”. Chỉ còn tôi ở lại, cha bảo: Đói no, đời
nào cây cũng phải giữ lấy gốc!
Ở quê, tôi
tiếp tục lao vào vẽ tranh dân gian, vẽ cuốn thư, câu đối đem bán ngoài các chợ.
Buổi sáng ra đồng làm ruộng, lên công trường thủy lợi, chiều về lại ngồi trước
giá vẽ đến quá nửa đêm dưới cây đèn dầu có chụp hắt sáng (chị tôi gửi cho từ
Sài Gòn). Cây đèn tỏa ánh sáng vàng vọt xuống mặt tranh. Có lẽ vì vẽ quá nhiều
trong không gian thiếu sáng mà cặp mắt tôi bị yếu nhanh. Biết vậy, tôi vẫn cố
gắng vẽ để tìm nguồn sinh sống. Hồi ấy, được cái dân quê Hà Nam chúng tôi chuộng tranh lắm.
Nhiều nhà có của ăn của để còn thuê tôi vẽ rồng phượng trang trí áo quan rất
đẹp. Cái chết cũng được người dân quê tôi thi vị hóa từ hồi ấy. Nhà nào tết đến
xuân về, hoặc khánh thành nhà mới, làm đám cưới, làm mừng thọ cũng muốn treo
lên tường những bức tranh cho sáng sủa. Nên nghề vẽ tranh của tôi cũng không
đến nỗi nào. Đong được thêm thóc gạo, ngô khoai. Mua sắm áo quần, sách bút cho
con. Lo giỗ chạp. Lo ứng xử, công việc nội ngoại ba bề bốn bên trên mảnh đất
một vùng quê còn mang đậm văn hóa Làng Việt cổ với biết bao phong tục tập quán,
lễ hội... thật không đơn giản chút nào trong hoàn cảnh thời buổi khó khắn,
nghiệt ngã!
Lúc rỗi rãi,
cha lại ngồi bên mở sách đọc những bài thơ của Nguyễn Du, Đỗ Phủ... Nhiều bức
tranh phong cảnh vẽ bằng bột màu tôi đã vẽ dựa theo ý những bài thơ trong tập
“Dưới chân núi Hồng” của Thi hào họ Nguyễn. Có bận trộm nhìn tôi đã thấy cha
khóc, những giọt nước mắt âm thầm thấm ướt trang sách!
Thấy tôi cắm
cúi vẽ, cha vừa mừng vừa tủi. Ông an ủi con trai: Kiếm sống là một việc, nhưng
con cố gắng nên người bằng văn chương! Văn chương cũng là một loại Kinh của
Phật. Tuy không đưa được người ta đến bến bờ nào cả, nhưng nó làm cho người ta
sang trọng, buông bỏ được mọi thứ nặng nề… Đời nào nhà ta cũng trọng văn
chương!
Như vậy là cha
đã rất hy vọng về tôi! Và chiêm nghiệm, thấy lời cha tôi ngày ấy đang dần đúng!
***
Cũng không
hiểu, do dãi nắng dầm sương quá nhiều hay sao, mà cha tôi suốt cả cuộc đời, tôi
chưa thấy ông ốm hay nhức đầu sổ mũi? Cha như một pho tượng đồng hun trên đồng
đất chua mặn, trong gió bão, trước biến cố cuộc đời, trước những con đường! Cha
không động đến một viên thuốc cảm, không nhờ một mũi tiêm.
Và rồi... Cuối
cùng thì sức người có hạn. Đá còn đổ mồ hôi! Cha lâm bệnh. Đấy là những ngày
qua giêng, đầu tháng hai. Cha tôi đi đưa đám, tiễn biệt chị gái của cha-cô ruột
của tôi. Tiễn biệt người chị gái cuối cùng của mình, cha để đầu trần đi dưới
làn mưa xuân bay trắng chân mây. Trên bờ con kênh đang đắp dở từ đầu làng lên
xóm Bãi Xéo, dưới trời mưa sầm sũi, cha cảm thấy sự cô đơn hoang lạnh của người
sót lại sau những bão giông. Sự cô đơn ấy đang theo chân sinh mạng cuối cùng
của thế hệ mình trong tổ ấm gia đình.
Cha đã bị cảm
lạnh. Về nhà, tôi sắc thuốc, cha kiên quyết không dùng, mà ông tự nhịn để thật
đói, để thải hết mồ hôi. Cha tôi có cách trị bệnh kỳ lạ, hễ đau bụng là ông
nhịn ăn: “Làm đói để sạch ruột, sau đó ăn vào mới tốt!” Qua mấy lần theo dõi
cha làm vậy, cũng đúng như ông nói thật.
Các chị các em
tôi về chăm sóc, bàn thảo đưa cha đi bệnh viện. Nhưng ông nhất mực từ chối,
không chịu đi. Người ta bảo người không ốm vặt, khi ốm sẽ ốm nặng. Quả vậy, khi
ngã bệnh cha tôi nằm đó luôn. Hình như Người đã cảm nhận cái mệnh đến gần. Cha
thường dặn chúng tôi: Cố mà sống cho tốt các con ạ! Đừng bao giờ để phiền đến
pháp luật, đến nhà thương (bệnh viện)! Hai cái đó phải tránh!
Về hai điều
răn này, bản thân cha chỉ tránh được một: không phiền đến nhà thương! Còn điều
kia thì ông đã không tránh được vì những năm đen tối 1950 ông từng bị bọn Phòng
Nhì Pháp bắt giam, tra khảo tại đồn Quảng Yên; những năm thời ta 1960 ông từng
bị gọi lên đồn Công an thị trấn Quảng Yên xét hỏi, điều tra vặn đi vặn lại về
quá khứ làm lý trưởng và chánh tổng Hà Nam! Tôi nhớ những ngày ấy, lúc về,
gương mặt ông hốc hác vô cùng. Tôi nghe được những câu cha lầm bẩm nửa như nói
với chính mình nửa như nói với vợ con:
-Khổ lắm! Cả
đời… giữ mình như giữ lửa… Vậy mà… Lửa vẫn không yên… vì gió bão…
Đêm. Cha lại
ngồi như một ông Phật trong một khoa tự hành xác!
***
Có một người
bạn cùng huyện, lúc đó báo tỉnh cử đi học trường Báo chí cùng đợt với tôi, anh
đã được ăn học tử tế và bài bản. Còn tôi đã không đi được vì cha đang ốm, tôi
không nỡ lòng nào bỏ người nằm đó với bệnh tật để mình đi tới vinh hoa! Trở về,
anh bạn tôi nghiễm nhiên làm phóng viên chuyên nghiệp, rồi lên Tổng Biên tập
báo tỉnh. Từ Tổng biên tập, anh lại lên trưởng Ban tuyên giáo Tỉnh ủy, rồi lại
về làm chủ tịch Hội VHNT tỉnh. Đường công danh hoạn lộ thật suôn sẻ! Nay bạn đã
nghỉ hưu, nhẩn nha nhấm nháp kết quả những gì thành đạt trong một tòa cao ốc
bên vịnh Hạ Long! Tôi còn giữ một bức thư tay của anh. Trong thư anh nói rất
cảm phục tài
năng của tôi, hoàn cảnh khó khăn
như vậy mà tôi vẫn vươn lên bằng tự học, tự phấn đấu thành nhà báo nghiệp dư.
Lúc đó anh chỉ dám là người đứng xa ngắm nhìn tôi. Anh hứa sẽ giúp đỡ tôi vào
Hội Nhà báo Việt Nam.
Lâu dần, lời hứa gió bay! Vả lại với anh trong con mắt của người khi đã thành
đạt rồi, tôi vẫn chỉ là một anh nông dân làm báo. Thực tình, tôi cũng chẳng hy
vọng gì vào lời hứa đó, khi cái Tâm của mình dành cho cuộc đời làm báo đã hơn
bốn mươi năm nay: tôi đi bằng đôi chân của mình và “cái thẻ” của người cha kính
yêu! Theo đức độ và chữ Nhẫn của cha, tôi đã làm một người thợ cày thực sự trên
hai cánh đồng: Cánh đồng làng và Cánh đồng chữ!
Câu nói: “Đói
no, đời nào cây cũng phải giữ lấy gốc” vẫn ngân nga trong tâm trí tôi. Giữa
thời Đổi mới đang phát triển, đang bung ra nhiều thứ, làng quê đang được nhiều
thứ nhưng cũng đang mất đi nhiều thứ. Nếu ta không giữ lấy cái gốc bản sắc văn
hóa của gia đình, của làng xã, vùng miền thì rồi đây văn hóa Việt, tâm hồn
Việt, dân tộc Việt sẽ ra sao? Càng nghĩ càng thấm thía những lời răn dạy bất
thành văn của cha: Gốc ở đây là nhà. Có nhà mới có họ, có họ mới có làng. Làng
Việt xưa và nay vốn là gốc của nước, là tế bào của dân tộc Việt!
Chợt nhớ tới
một câu thơ của một nhà thơ nào đó, đại ý: “Khi
đem cân lên lòng yêu Tổ Quốc/ Trên đời này chưa ai dễ hơn ai!”
Tôi vẫn lận
đận, miệt mài và nhiệt huyết chạy theo nghiệp hoạt động văn hóa xã hội, viết
báo nghiệp dư như một định mệnh khó gỡ. Không vay, tôi bỗng dưng thành người lo
trả nợ suốt đời. Như một kẻ “hoàn thổ” vào khoảng trống đất đai, tôi viết báo
viết văn như một sự đền bù vào những mất mát của cha mẹ tôi! Còn như một sự trả
lại Tâm Đức cho cha mẹ tôi. Còn như một sự đánh đổi, một sự nhuận sắc, cố quên
đi những gì mặc cảm mà người đời và ngay bản thân tôi chợt nhớ tới. Với tôi,
với anh chị em tôi, đức độ của cha là quá lớn. Cha mẹ là trời bể của con cái.
Một pho kinh sách không chữ, tôi đọc và học cả đời không hết lẽ! Dẫu đến hôm
nay, cha mẹ tôi chưa được hưởng gì của những thanh nhàn!
Bạn bè thường
hỏi tôi: Sinh trong một gia đình nho giáo, có được “ông già” dạy cho ít chữ nào
không mà thấy anh có vẻ am tường Hán tự? Thực tình tôi chỉ học lỏm qua lời cha
nói, cha đọc thơ hằng ngày mà thôi. Cha giải nghĩa cho tôi những câu đối, đại
tự. Cha dạy phải biết học các bậc trung thần, các gương hiếu nghĩa. Nhưng người
không dạy tôi lấy một chữ nho. Trong sâu thẳm, ông vẫn tiếc nuối ngôn tự vàng
son ấy, nhưng vì thời cuộc, vì ngay trong làng, những năm 1970, người ta đang
bài trừ mê tín dị đoan, phá đình chùa, miếu mạo rất gay gắt. Đình La bị bỏ
hoang, tượng Thành hoàng may có người đem đi giấu trong chùa La. Tượng Bụt và
câu đối trong chùa Cốc bên làng Cốc cũng bị ném xuống ao. Đình Đông ở làng Yên
Đông, ngôi đình lớn nhất huyện và đình Vị Dương của làng Vị Dương cũng bị đổ
nát, tháo dỡ... Huống chi chữ nho, rồi đây chẳng ai dùng làm gì. Dạy cũng uổng
công! Có thể cha tôi đã nghĩ vậy!
Lại một chút
nhớ về ngôi đình La.
Đình La nằm trên mảnh đất cuối làng La đầu làng Cốc. Đình bề thế, to cao và
rộng rãi, mang kiến trúc thời Lê Nguyễn. Cột gỗ lim to một vòng tay ôm không
xuể. Các mảng vì kèo, chồng đấu, các mảng điêu khắc rất đẹp. Ngoài sân có hai
cây đa cổ thụ tỏa bóng và buông xuống những chùm rễ rợp mát. Đình La là trường
làng- trường tiểu học, là nơi chúng tôi được ngồi học và vô tư vui chơi thuở
học trò với bao nhiêu kỷ niệm quãng đầu đời. Sau thời đoạn tuyệt với tư tưởng
phong kiến, ngôi đình đã kết thúc sứ mệnh che chở cho những đứa trẻ học trò trang
lứa chúng tôi. Trường Tiểu học mới chuyển về xây dựng trên khu đất cạnh hồ Mo
Ốc. Từ đó, ngôi đình bỏ không, mỗi ngày một thêm hoang phế. Hai cây đa tự chết.
Trẻ chăn trâu vào đốt lửa sưởi làm cháy cột. Không người cứu chữa. Đình bị sập
đổ từ từ như một tráng sĩ không lồ trong chuyện cổ tích đành chấp nhận da thịt
và bộ xương của mình nhão rữa và vụn vỡ trên mặt đất.
Một hôm, tôi
thấy cha tháo mấy tấm câu đối treo trên cột xuống ngắm đi ngắm lại. Ánh mắt ông
đau đáu, nhìn sâu thẳm vào từng chữ, từng nét, như muốn bóc chúng khỏi mặt gỗ
để nuốt vào lòng. Chọn một bộ treo trở lại, (bộ này nay vẫn treo ở hàng cột cái
nhà tôi); còn hai bộ, ông đem ra sân, sai tôi gọi thợ mộc đến cưa cắt, bào gọt.
Thì ra cha đóng hai cánh cửa chuồng trâu. Quét gom lại những phoi gỗ lẫn những
vẩy sơn then thếp vàng tung tóe trên sân vào sọt rác, ông đọc câu thơ:
Cổ kim vị kiến thiên niên quốc!
Anh em tôi
cũng từng xé trộm giấy trong những quyển sách nho của cha để dán những cánh
diều. Nhìn thấy, cha cũng chẳng bảo sao. Diều dán bằng giấy nho rất ăn gió, bay
tít lên cao. Cánh diều mang một giấc mơ khác của đám trẻ chúng tôi, mang những
dòng chữ nho đen rậm như những bụi cây lên trời và không biết tan loãng vào đâu
mất. Trong nội tâm cha tôi đang dằn vặt những mâu thuẫn, giữa một đằng muốn
giằng kéo, trì giữ như người nuốt lá trúc, một đằng muốn đẩy ra, xóa đi cho
thanh nhẹ thần xác, biết đâu vì chữ nghĩa mà con mình không may lại chuốc họa
sau này!...
Tuổi thơ cứ thế vô tư và dại dột. Tôi đâu biết
mình đã thả phí bao nhiêu chữ nghĩa của cha, bao nhiêu vốn văn hóa lâu đời,
tinh hoa trí tuệ của nhân gian!
(CÒN NỮA)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét