Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

KÝ ỨC NGƯỜI CHA - Phần VI- Giữ lấy nguồn cội



KÝ ỨC NGƯỜI CHA
- Phần VI- Giữ lấy nguồn cội
  


 BỘ CỬA GỖ DỔI HƠN TRĂM NĂM VÀ CHIẾC HÒM SẮC CỦA CHA TÔI CÒN SÓT LẠI

Năm 1982, Cha tôi tạ thế, thọ 75 tuổi.
Nhớ lại ngày cha mất. Chao ôi, biết bao khó khăn, nhọc nhằn, túng đói không thể nào tả nổi của thời kỳ hậu bao cấp. Hợp tác xã tập thể đang bắt đầu trên đà rệu rã. Nông nghiệp mất mùa liên miên. Ruộng đất vẫn cày chùi bừa gãi. Máy cày vào ruộng nay sa lầy, mai trụt bánh. Khu Hậu Hương có cây cầu Lò Gạch bắc qua mương bắng bốn cây cột điện đã lỗ chỗ bong bê tông, trơ săt han rỉ. Bởi sức ép của cán bộ quản trị phải cày xong xứ đồng Cây Tre để báo cáo thành tích, chiếc máy cày do một công nhân người Đông Triều điều khiển khi chạy trên thanh cột điện đã bị sập cầu, ngã chổng kềnh xuống mương nước. Tay công nhân chết ngạt trong ca bin, ngày hôm sau phải phá ca bin mới móc lên được.
Đàn trâu trong các đội sản xuất mỗi ngày một hao hụt, con phát cước chết rét, con bị gầy yếu ốm sệp, con bị tỉa bán chui cho “ba toa”. Trại lợn tập thể liên tiếp sập chuồng đổ mái. Đánh rắm thối chạ. Thóc trong kho tự nhiên sụt mớn toang hoảng. Kế toán nghi ngờ thủ kho. Thủ kho đổ vạ đội trưởng. Sanh không lỗ cá đi đằng nào, chẳng ai hay! Đời sống nông dân gần như cùng cực, điêu đứng. Làng xã chìm trong nghèo nàn, lạc hậu. Ngày cha ốm mà bồ thóc trống không, úp ngược trong xó buồng. Ngôi nhà vắng từ cả tiếng chuột kêu...
Cuộc đời cha tôi về cuối như người qua sông lỡ đò, không biết được phía trước con đường. Người còn ôm một nỗi buồn gia thống vì khi đó tôi là trưởng nam vẫn chưa có đứa con trai. Mãi một năm sau Người không còn trên cõi thế, con trai tôi mới ra đời! Nhìn ánh mắt cha, tôi biết trong lòng ông còn nặng trĩu những nỗi niềm trắc ẩn, không nói thành lời. Mặc dù thường ngày, tôi không thấy cha tỏ vẻ sốt ruột về điều này. Khi vui đùa với các cháu, ông luôn bảo: Con nào cũng là con! Cháu nào cũng là cháu ông!
Sau cơn ho rũ rượi, cha tôi mệt lắng đi. Tôi bế cha đặt lại cho thế nằm thanh thản. Trên gối tay con, cha thều thào trong hơi thở ngắn: -Con ơi! Giữa trời giữa bể mất rồi! Ánh mắt chợt mở to sáng long lanh, người dặn tôi:
-Thời nào thì thời, hãy ghi nhớ “Tích Thiện Đường” con nhé! Rồi người cố đọc được hai câu thơ:
Thông thần diệu thuật chung vô bổ
Thị Phật chân du biệt hữu phương!
 (Tạm dịch: Mọi thần dược, diệu thuật đều thành vô bổ. Chỉ còn một phương cuối cùng nhìn về cửa Phật mà thôi!)
Đau đớn và thương tiếc, lúc đó tôi chỉ biết gạt nước mắt: Cha ơi! Cha cố sống thêm chút nữa. Biết đâu sẽ được biết mặt đứa cháu nối dõi dòng Dương Phượng của cha? Biết đâu cha sẽ được thấy những gì của thời kiến quốc?
***
Năm Nhâm Thìn 2013. Hôm khánh thành nhà mới, ngắm nhìn ba gian cốt gỗ lim cổ được phục dựng nguyên bản và nhuận sắc mỹ thuật, lòng tôi lại nôn nao nỗi nhớ hình bóng cha tôi. Như vẫn còn đó ngồi kia trên bộ tràng kỷ. Chiếc bóng hao gầy thầm lặng bên cạnh ngọn đèn dầu hỏa. Tay lần giở, đọc từng trang sách. Tôi liên tưởng Người như một vị Đại đức đang giảng Kinh, giọng trầm và sang, nghiêng động cả một miền tâm thức. Thắp nén nhang, đội những cuốn sách-những tác phẩm thơ văn của tôi đã xuất bản trên đầu, tôi bái lạy lên cha:
-Kính lạy cha! Con đã làm được việc mà cha suốt đời âm thầm khát vọng: Ở lại quê hương xây dựng gia đình, xây dựng tiếp sự nghiệp gia thất để kế thừa những gì cha còn dang dở. Ngôi nhà của Tổ tiên bao đời đã được tu tạo, xây cất mới trên nền móng nguồn cội của cha mẹ! Sự nghiệp văn chương của con cũng đã phần nào đạt được những thành tựu. Mong cha mẹ phù hộ cho cháu con vạn phúc, phù hộ cho con tiếp tục gặt hái được những thành công mới trong sự nghiệp mà con đã trót đa mang!
Chính cũng từ ý nghĩa của sự kiện trọng đại này của đời tôi với cha mà tôi quyết định tổ chức Ngày Thơ Cánh Đồng &Ngọn Lửa của tôi cùng vào ngày tân gia. Bạn bè tôi từ các nơi về dự rất đông vui. Họ mừng, họ chia sẻ niềm vui với vợ chồng tôi. Nhưng họ không thể nào ngờ đằng sau đấy: tôi như người kéo màn vừa khép lại một tấn bi kịch của cha tôi trên sân khấu cuộc đời. Tôi làm mới lại ngôi nhà cổ của cha tôi kế thừa và để lại vào năm tuổi sáu ba. Sáu mươi ba năm sinh ra, lớn lên và trưởng thành trên đất tổ tiên tạo dựng, trên cơ nghiệp cham mẹ tôi năm chìm bảy nổi, tôi mới đặt xong một nét gạch nối, nối tiếp gia phong của gia đình tôi. Nên gia ổ nhà tôi ai cũng mừng cho những nghĩ suy, quyết định và hành xử chín chắn của tôi về cơ nghiệp kế thừa này...
Có thời gian, vì nông cạn và nóng vội, háo hức của sức vóc con chim bay ràng muốn sổ lồng bay nhảy, tôi đã từng trách cha tôi. Tôi cho rằng cha đã là người không chịu mở cửa cho tôi khi ông cố tìm mọi cách giữ chân con trai lớn ở lại quê nhà, không cho đi học Đại học báo chí. Cha đã đóng cánh cổng ngõ lại bằng chữ Nhẫn, chữ Nhân! Thêm nữa có thể cha đã nghĩ tiêu cực về sự học của con trai, có học cao cũng chẳng làm gì, cũng chẳng nên ông nọ bà kia. Sau này nhiều năm, tôi mới hiểu ra nỗi đau của ông. Cha đã ngầm đau chuyện địa phương họ mặc cảm lý lịch với tôi. Nào là con nhà địa chủ, nào là con ông Lý, ông Tổng v.v và v.v... Bởi ngay trong số cán bộ địa phương, trong đó có anh con cô con cậu, rồi anh con dì con bá bên mẹ Cả tôi thay nhau làm chủ tịch, phó chủ tịch xã đã phê những điều không tốt đẹp gì vào lý lịch của các chị gái tôi. Chị gái thứ năm trên tôi đậu cử nhân, bươn trải hết nơi này nơi khác, phấn đấu mãi mới được vào Đoàn. Đến thời gian sau Đại thắng mùa xuân 1975, chuyển vào TP Hồ Chí Minh công tác, nhờ công cuộc Đổi Mới, 56 tuổi đời chị tôi mới được kết nạp Đảng.
Đầu những năm 1970, ông Hoàng Đông chủ nhiệm HTX vận tải Đại Thành gặp tôi hoạt động văn hóa thông tin trên công trường khai hoang lấn biển đắp đê Cái Dâu (nay là phường Hà An). Để ý, biết khả năng kẻ vẽ và viết báo, sáng tác thơ ca của tôi, ông định tuyển tôi sang cơ quan của ông làm việc ở Ban Văn hóa tuyên truyền. Nghe ông, tôi nộp đơn và hồ sơ. Ông cùng tôi đến làm việc với UBHC xã. Nhưng bà chủ tịch xã đã kiên quyết không ký đơn, với lý do: xã cũng đang cần cán bộ làm văn hóa tuyên truyền. Nhưng, đấy chỉ là cái cớ, một lý do không đáng kể...
Trong thâm tâm, một phần cha cũng muốn cho tôi bay nhảy để có cơ hội thoát khỏi vòng đê, để học hành, thăng tiến. Nhưng một phần ông lại muốn con trai trưởng phải ở lại sau này còn lo việc hương khói tổ tiên. Vì tôi không chỉ là con trưởng của gia đình, mà còn đứng đầu cả một chi ổ lớn trong dòng họ. Cha vẫn cố gắng cầm chân tôi. Cha vẫn hy vọng: Sông có khúc, sẽ có lúc chảy vòng lại! Nhưng cha tôi đã nhầm, một sự nhầm lẫn mà cha không hề biết hay cha cố ý chấp nhận: Cha ngồi vào bàn cờ đời, bị thua trắng bởi tại ngay chính đức độ của mình!
 Năm 1978, tôi sang làm việc tại Phòng Văn hóa Thông tin huyện, với công việc chuyên viết tin và vẽ tranh cổ động. Cha vẫn vận động người khác lay chuyển tôi quay về. Giai đoạn này, nhà tôi đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn, đói kém, đói ghê gớm. Râu tóc nham nhở, cha tôi suy sụp hẳn đi. Em trai dưới tôi học Trung cấp mỏ, ra Cẩm Phả làm công nhân, lấy vợ. Mẹ tôi phải ra theo để trông nom các cháu. Em kế nữa theo chị gái thứ ba vào Sài Gòn, rồi đi Thanh niên xung phong chiến dịch Bảo vệ biên giới Tây Nam. Em út nhập ngũ, lính chiến dịch “bảo vệ biên giới phía bắc”, sau cũng về làm công nhân ở Cẩm Phả. Nhà tôi bắt đầu từng bước tan đàn sẻ nghé, nhưng cũng là chia bớt miệng ăn khỏi chiếc mâm gỗ mỗi ngày thêm sứt mẻ. Các em tôi được ăn theo gạo mậu dịch, thỉnh thoảng lại gửi năm nắm ba mớ về quê “cấp cứu”. Chỉ còn tôi ở lại, cha bảo: Đói no, đời nào cây cũng phải giữ lấy gốc!
Ở quê, tôi tiếp tục lao vào vẽ tranh dân gian, vẽ cuốn thư, câu đối đem bán ngoài các chợ. Buổi sáng ra đồng làm ruộng, lên công trường thủy lợi, chiều về lại ngồi trước giá vẽ đến quá nửa đêm dưới cây đèn dầu có chụp hắt sáng (chị tôi gửi cho từ Sài Gòn). Cây đèn tỏa ánh sáng vàng vọt xuống mặt tranh. Có lẽ vì vẽ quá nhiều trong không gian thiếu sáng mà cặp mắt tôi bị yếu nhanh. Biết vậy, tôi vẫn cố gắng vẽ để tìm nguồn sinh sống. Hồi ấy, được cái dân quê Hà Nam chúng tôi chuộng tranh lắm. Nhiều nhà có của ăn của để còn thuê tôi vẽ rồng phượng trang trí áo quan rất đẹp. Cái chết cũng được người dân quê tôi thi vị hóa từ hồi ấy. Nhà nào tết đến xuân về, hoặc khánh thành nhà mới, làm đám cưới, làm mừng thọ cũng muốn treo lên tường những bức tranh cho sáng sủa. Nên nghề vẽ tranh của tôi cũng không đến nỗi nào. Đong được thêm thóc gạo, ngô khoai. Mua sắm áo quần, sách bút cho con. Lo giỗ chạp. Lo ứng xử, công việc nội ngoại ba bề bốn bên trên mảnh đất một vùng quê còn mang đậm văn hóa Làng Việt cổ với biết bao phong tục tập quán, lễ hội... thật không đơn giản chút nào trong hoàn cảnh thời buổi khó khắn, nghiệt ngã!
Lúc rỗi rãi, cha lại ngồi bên mở sách đọc những bài thơ của Nguyễn Du, Đỗ Phủ... Nhiều bức tranh phong cảnh vẽ bằng bột màu tôi đã vẽ dựa theo ý những bài thơ trong tập “Dưới chân núi Hồng” của Thi hào họ Nguyễn. Có bận trộm nhìn tôi đã thấy cha khóc, những giọt nước mắt âm thầm thấm ướt trang sách!
Thấy tôi cắm cúi vẽ, cha vừa mừng vừa tủi. Ông an ủi con trai: Kiếm sống là một việc, nhưng con cố gắng nên người bằng văn chương! Văn chương cũng là một loại Kinh của Phật. Tuy không đưa được người ta đến bến bờ nào cả, nhưng nó làm cho người ta sang trọng, buông bỏ được mọi thứ nặng nề… Đời nào nhà ta cũng trọng văn chương!
Như vậy là cha đã rất hy vọng về tôi! Và chiêm nghiệm, thấy lời cha tôi ngày ấy đang dần đúng!
***
Cũng không hiểu, do dãi nắng dầm sương quá nhiều hay sao, mà cha tôi suốt cả cuộc đời, tôi chưa thấy ông ốm hay nhức đầu sổ mũi? Cha như một pho tượng đồng hun trên đồng đất chua mặn, trong gió bão, trước biến cố cuộc đời, trước những con đường! Cha không động đến một viên thuốc cảm, không nhờ một mũi tiêm.
Và rồi... Cuối cùng thì sức người có hạn. Đá còn đổ mồ hôi! Cha lâm bệnh. Đấy là những ngày qua giêng, đầu tháng hai. Cha tôi đi đưa đám, tiễn biệt chị gái của cha-cô ruột của tôi. Tiễn biệt người chị gái cuối cùng của mình, cha để đầu trần đi dưới làn mưa xuân bay trắng chân mây. Trên bờ con kênh đang đắp dở từ đầu làng lên xóm Bãi Xéo, dưới trời mưa sầm sũi, cha cảm thấy sự cô đơn hoang lạnh của người sót lại sau những bão giông. Sự cô đơn ấy đang theo chân sinh mạng cuối cùng của thế hệ mình trong tổ ấm gia đình.
Cha đã bị cảm lạnh. Về nhà, tôi sắc thuốc, cha kiên quyết không dùng, mà ông tự nhịn để thật đói, để thải hết mồ hôi. Cha tôi có cách trị bệnh kỳ lạ, hễ đau bụng là ông nhịn ăn: “Làm đói để sạch ruột, sau đó ăn vào mới tốt!” Qua mấy lần theo dõi cha làm vậy, cũng đúng như ông nói thật.
Các chị các em tôi về chăm sóc, bàn thảo đưa cha đi bệnh viện. Nhưng ông nhất mực từ chối, không chịu đi. Người ta bảo người không ốm vặt, khi ốm sẽ ốm nặng. Quả vậy, khi ngã bệnh cha tôi nằm đó luôn. Hình như Người đã cảm nhận cái mệnh đến gần. Cha thường dặn chúng tôi: Cố mà sống cho tốt các con ạ! Đừng bao giờ để phiền đến pháp luật, đến nhà thương (bệnh viện)! Hai cái đó phải tránh!
Về hai điều răn này, bản thân cha chỉ tránh được một: không phiền đến nhà thương! Còn điều kia thì ông đã không tránh được vì những năm đen tối 1950 ông từng bị bọn Phòng Nhì Pháp bắt giam, tra khảo tại đồn Quảng Yên; những năm thời ta 1960 ông từng bị gọi lên đồn Công an thị trấn Quảng Yên xét hỏi, điều tra vặn đi vặn lại về quá khứ làm lý trưởng và chánh tổng Hà Nam! Tôi nhớ những ngày ấy, lúc về, gương mặt ông hốc hác vô cùng. Tôi nghe được những câu cha lầm bẩm nửa như nói với chính mình nửa như nói với vợ con:
-Khổ lắm! Cả đời… giữ mình như giữ lửa… Vậy mà… Lửa vẫn không yên… vì gió bão…
Đêm. Cha lại ngồi như một ông Phật trong một khoa tự hành xác!
***
Có một người bạn cùng huyện, lúc đó báo tỉnh cử đi học trường Báo chí cùng đợt với tôi, anh đã được ăn học tử tế và bài bản. Còn tôi đã không đi được vì cha đang ốm, tôi không nỡ lòng nào bỏ người nằm đó với bệnh tật để mình đi tới vinh hoa! Trở về, anh bạn tôi nghiễm nhiên làm phóng viên chuyên nghiệp, rồi lên Tổng Biên tập báo tỉnh. Từ Tổng biên tập, anh lại lên trưởng Ban tuyên giáo Tỉnh ủy, rồi lại về làm chủ tịch Hội VHNT tỉnh. Đường công danh hoạn lộ thật suôn sẻ! Nay bạn đã nghỉ hưu, nhẩn nha nhấm nháp kết quả những gì thành đạt trong một tòa cao ốc bên vịnh Hạ Long! Tôi còn giữ một bức thư tay của anh. Trong thư anh nói rất cảm phục tài
năng của tôi, hoàn cảnh khó khăn như vậy mà tôi vẫn vươn lên bằng tự học, tự phấn đấu thành nhà báo nghiệp dư. Lúc đó anh chỉ dám là người đứng xa ngắm nhìn tôi. Anh hứa sẽ giúp đỡ tôi vào Hội Nhà báo Việt Nam. Lâu dần, lời hứa gió bay! Vả lại với anh trong con mắt của người khi đã thành đạt rồi, tôi vẫn chỉ là một anh nông dân làm báo. Thực tình, tôi cũng chẳng hy vọng gì vào lời hứa đó, khi cái Tâm của mình dành cho cuộc đời làm báo đã hơn bốn mươi năm nay: tôi đi bằng đôi chân của mình và “cái thẻ” của người cha kính yêu! Theo đức độ và chữ Nhẫn của cha, tôi đã làm một người thợ cày thực sự trên hai cánh đồng: Cánh đồng làng và Cánh đồng chữ!
Câu nói: “Đói no, đời nào cây cũng phải giữ lấy gốc” vẫn ngân nga trong tâm trí tôi. Giữa thời Đổi mới đang phát triển, đang bung ra nhiều thứ, làng quê đang được nhiều thứ nhưng cũng đang mất đi nhiều thứ. Nếu ta không giữ lấy cái gốc bản sắc văn hóa của gia đình, của làng xã, vùng miền thì rồi đây văn hóa Việt, tâm hồn Việt, dân tộc Việt sẽ ra sao? Càng nghĩ càng thấm thía những lời răn dạy bất thành văn của cha: Gốc ở đây là nhà. Có nhà mới có họ, có họ mới có làng. Làng Việt xưa và nay vốn là gốc của nước, là tế bào của dân tộc Việt!
Chợt nhớ tới một câu thơ của một nhà thơ nào đó, đại ý: “Khi đem cân lên lòng yêu Tổ Quốc/ Trên đời này chưa ai dễ hơn ai!”
Tôi vẫn lận đận, miệt mài và nhiệt huyết chạy theo nghiệp hoạt động văn hóa xã hội, viết báo nghiệp dư như một định mệnh khó gỡ. Không vay, tôi bỗng dưng thành người lo trả nợ suốt đời. Như một kẻ “hoàn thổ” vào khoảng trống đất đai, tôi viết báo viết văn như một sự đền bù vào những mất mát của cha mẹ tôi! Còn như một sự trả lại Tâm Đức cho cha mẹ tôi. Còn như một sự đánh đổi, một sự nhuận sắc, cố quên đi những gì mặc cảm mà người đời và ngay bản thân tôi chợt nhớ tới. Với tôi, với anh chị em tôi, đức độ của cha là quá lớn. Cha mẹ là trời bể của con cái. Một pho kinh sách không chữ, tôi đọc và học cả đời không hết lẽ! Dẫu đến hôm nay, cha mẹ tôi chưa được hưởng gì của những thanh nhàn!
Bạn bè thường hỏi tôi: Sinh trong một gia đình nho giáo, có được “ông già” dạy cho ít chữ nào không mà thấy anh có vẻ am tường Hán tự? Thực tình tôi chỉ học lỏm qua lời cha nói, cha đọc thơ hằng ngày mà thôi. Cha giải nghĩa cho tôi những câu đối, đại tự. Cha dạy phải biết học các bậc trung thần, các gương hiếu nghĩa. Nhưng người không dạy tôi lấy một chữ nho. Trong sâu thẳm, ông vẫn tiếc nuối ngôn tự vàng son ấy, nhưng vì thời cuộc, vì ngay trong làng, những năm 1970, người ta đang bài trừ mê tín dị đoan, phá đình chùa, miếu mạo rất gay gắt. Đình La bị bỏ hoang, tượng Thành hoàng may có người đem đi giấu trong chùa La. Tượng Bụt và câu đối trong chùa Cốc bên làng Cốc cũng bị ném xuống ao. Đình Đông ở làng Yên Đông, ngôi đình lớn nhất huyện và đình Vị Dương của làng Vị Dương cũng bị đổ nát, tháo dỡ... Huống chi chữ nho, rồi đây chẳng ai dùng làm gì. Dạy cũng uổng công! Có thể cha tôi đã nghĩ vậy!
Lại một chút nhớ về ngôi đình La. Đình La nằm trên mảnh đất cuối làng La đầu làng Cốc. Đình bề thế, to cao và rộng rãi, mang kiến trúc thời Lê Nguyễn. Cột gỗ lim to một vòng tay ôm không xuể. Các mảng vì kèo, chồng đấu, các mảng điêu khắc rất đẹp. Ngoài sân có hai cây đa cổ thụ tỏa bóng và buông xuống những chùm rễ rợp mát. Đình La là trường làng- trường tiểu học, là nơi chúng tôi được ngồi học và vô tư vui chơi thuở học trò với bao nhiêu kỷ niệm quãng đầu đời. Sau thời đoạn tuyệt với tư tưởng phong kiến, ngôi đình đã kết thúc sứ mệnh che chở cho những đứa trẻ học trò trang lứa chúng tôi. Trường Tiểu học mới chuyển về xây dựng trên khu đất cạnh hồ Mo Ốc. Từ đó, ngôi đình bỏ không, mỗi ngày một thêm hoang phế. Hai cây đa tự chết. Trẻ chăn trâu vào đốt lửa sưởi làm cháy cột. Không người cứu chữa. Đình bị sập đổ từ từ như một tráng sĩ không lồ trong chuyện cổ tích đành chấp nhận da thịt và bộ xương của mình nhão rữa và vụn vỡ trên mặt đất.
Một hôm, tôi thấy cha tháo mấy tấm câu đối treo trên cột xuống ngắm đi ngắm lại. Ánh mắt ông đau đáu, nhìn sâu thẳm vào từng chữ, từng nét, như muốn bóc chúng khỏi mặt gỗ để nuốt vào lòng. Chọn một bộ treo trở lại, (bộ này nay vẫn treo ở hàng cột cái nhà tôi); còn hai bộ, ông đem ra sân, sai tôi gọi thợ mộc đến cưa cắt, bào gọt. Thì ra cha đóng hai cánh cửa chuồng trâu. Quét gom lại những phoi gỗ lẫn những vẩy sơn then thếp vàng tung tóe trên sân vào sọt rác, ông đọc câu thơ:
Cổ kim vị kiến thiên niên quốc!
Anh em tôi cũng từng xé trộm giấy trong những quyển sách nho của cha để dán những cánh diều. Nhìn thấy, cha cũng chẳng bảo sao. Diều dán bằng giấy nho rất ăn gió, bay tít lên cao. Cánh diều mang một giấc mơ khác của đám trẻ chúng tôi, mang những dòng chữ nho đen rậm như những bụi cây lên trời và không biết tan loãng vào đâu mất. Trong nội tâm cha tôi đang dằn vặt những mâu thuẫn, giữa một đằng muốn giằng kéo, trì giữ như người nuốt lá trúc, một đằng muốn đẩy ra, xóa đi cho thanh nhẹ thần xác, biết đâu vì chữ nghĩa mà con mình không may lại chuốc họa sau này!...
 Tuổi thơ cứ thế vô tư và dại dột. Tôi đâu biết mình đã thả phí bao nhiêu chữ nghĩa của cha, bao nhiêu vốn văn hóa lâu đời, tinh hoa trí tuệ của nhân gian!
 (CÒN NỮA)







Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét