KÝ ỨC NGƯỜI CHA
Phần III-Xa xót phù sa
Trước thời
gian cha tôi mất, ông đã trải qua những tháng năm như người mất hồn vì bỗng dưng...
lại bị mất đất, mất vườn.
Không hiểu
sao, do đâu, chính quyền địa phương và HTX lợi dụng chính sách Nhà nước, (hình
như đấy là đợt thực hiện Chỉ thị 228 gì đó) kéo đến đo đạc vườn cây rồi cắt ra
phần lớn diện tích. Họ chỉ họp qua loa, rồi đồn thổi đến tai, gây áp lực, dậm
dọa cha tôi. Cha mẹ tôi ngã ngửa trước sự kiện đột biến này! Hàng đêm cha mất
ngủ. Ông lang thang ngoài vườn từ gốc cây này sang luống rau kia. Sự cô đơn
trùm xuống như một cái bóng vô hình.
Manh nha cảm
thấy mối đe dọa đâu đó đang đến gần, chị gái Cả kéo các chị tôi về khuyên cha:
-Hay thầy để chúng con dựng một túp nhà gianh nhỏ ở khoảnh vườn mé ao cho cậu,
coi như thầy cho cậu ra ở riêng. Chủ yêu là cho cậu giữ mảnh đất đó cũng được!
Nhưng cha tôi đã khước từ: -Sao phải thế hả các con. Nhà ta từ đời cụ kỵ, cho
chí ông bà, chưa bao giờ sẻ nồi chia mâm. Các con định phân rẽ cha con ra khỏi
nhà ư? Thuyết phục không được, các chị tôi đành thốt lên: -Trời ôi! Sao thầy
lại có thể thực thà đến vậy?
Cuối cùng xã
lấy ra mất 4 sào vườn.
Cũng thời điểm
đó, trong xóm có gia đình người anh con bà cô tôi cả đời làm nghề thợ mộc cũng
bị người ta đem xe ô tô đến tịch thu các bộ tràng kỷ, sập gỗ đắt tiền với lý
do: Nhà chứa nhiều đồ gỗ; gỗ này lấy ở đâu; gỗ phi pháp không có giấy tờ của
kiểm lâm. Đến khi “giải oan”, được trả lại thì cái sứt cái mẻ, cái mộng mẹo như
răng bà già...
Xã dùng tay
Phạm Tới một cán bộ phụ trách Ban Lão thành, cho các lão thành đào phá vườn
cây, trồng cây hương nhu, “hoài sơn” (củ mài) để làm vườn thuốc nam cho Trạm xá
xã. Còn chúng tôi đang cơ trẻ người non dạ, ngơ ngác trên ghế nhà trường, mê
tơi trong âm hưởng những bài thơ Tố Hữu, Xuân Diệu... có biết gì đâu! Nhận công
việc này, tay Phạm Tới tỏ vẻ xăng xái và hăm hở lắm! Hắn là một cán bộ thời
hoạt động Việt Minh, có tý nghiệp vụ công an, sau làm cán bộ thủy lợi, rồi sang
làm dân quân bảo vệ, rất mẫn cán trong công việc phát hiện, săn lùng.
Dạo có lệnh
cấm chó, hắn được xã phân công làm đội trưởng đội diệt chó. Hắn đi khắp các ngõ
xóm, đến các gia đình thám thính và dùng chiếc gậy lim phang thẳng vào đầu chó,
đập vỡ óc cho bằng chết. Lũ chó trong làng cũng lạ, Tới đi đến đâu là chúng
phát hiện ra ngay, cứ sủa ầm ĩ lên đến đó, không can được. Chính vì cái mồm
thính sủa mà nhiều con bị thiệt mạng ngay từ những ngày đầu dân quân ra quân.
Con chó Mích nhà tôi phải nói là khôn ngoan, hễ thấy tiếng chó sủa xa xa, tôi
vỗ tay: -Tới! Tới! Tới đấy!... Dù đang ngoài vườn hay nằm cạnh bờ ao là nó vội chạy
vào nhà, chui tọt dưới gầm bồ, nằm im như thóc. Khi Phạm Tới đến, mặc hắn khua
gậy xuống các gầm giường, xó bếp, con Mích vẫn nín thở, không ra tiếng. Hắn hỏi
trống không:
-Con chó nhà
ông đâu? Tôi đáp thay cha:
-Bán rồi!
Lúc hắn về,
tôi ra đóng ngõ, Mích ta lại nhảy cỡn lên vẫy đuôi rối rít... Phải đến hai năm
sau, vụ diệt chó khác... Cha tôi bán nó cho một ông bạn ngoài Cống Mương để ông
bạn khao thợ vừa đóng xong một con thuyền chã tôm. Cha tôi rất nể bạn. Ông bạn
vào gạ gẫm cha tôi để lại con chó bằng được: “Bác thông cảm, thương tình cho
em! Thịt lợn tiêu chuẩn không đủ. Hạ thủy con thuyền mà không có gì làm lễ khao
thợ có mà muối mặt. Chi bằng giết con chó là thượng sách. Nhưng chó các làng bị
quét sạch. Em đi sục khắp nơi mà không
nơi đâu còn bóng một con. Biết bác còn nên em mới đánh liều hỏi vậy.”! Lúc con
Mích bị trói đóng gô, nó kêu rên rất thảm thiết. Cả nó và tôi cùng nhìn nhau ứa
nước mắt! Nghe tiếng chó kêu, đến lúc này tay Phạm Tới mới biết con Mích nhà
tôi còn sống. Nên hắn cũng căm nhà tôi lắm!
Đau đớn hơn,
cha còn bị huy động trong đội ngũ lão thành, tự tay mình chặt cây phá vườn, nếu
không sẽ không có công điểm chia thóc. Ngày nào cũng khoảng chín, mười giờ sáng
là Phạm Tới đến kiểm tra con số và “đánh gọng vó” các cụ lão thành lao động.
Nhìn cha tôi cùng các cụ chặt gốc, đào rễ cây, hắn nhếch miệng cười, vẻ vui ra
mặt. Đám rau, hoa nhổ lên, hắn cho mang ra chùa trồng và không quên bớt lại đem
về trồng ở vườn nhà hắn.
Ba lạng thóc
một công, người nông dân vẫn nơm nớp đợi cuối vụ, chiều đến ra sân kho xếp
hàng. Mẹ tôi chỉ mang chiếc rá con. Có hôm, tối mịt về không. Câu “Dân dĩ thực
vi tiên” trong hoàn cảnh này vẫn đúng chăng?
Cầm chiếc cuốc
bập xuống những gốc cam, gốc bưởi, cha tôi như bập vào chính xương thịt mình.
Những giọt lệ ứa ra cùng những giọt mồ hôi trên gương mặt đen sạm rỏ xuống kéo
sụp mi mắt cha. Cành cây lổng chổng. Quả non vương vãi. Những dòng nhựa cây,
nhựa quả rơi như máu, thấm vào đất đai. Cả một khu vườn tược đang độ cây xanh
quả chín cùng bờ lũy tre dây bao bọc bỗng dưng bị bóc khỏi cơ thể bùn đất mới dâng
đắp chưa kịp lắng hết mùi chua mặn. Những vốc bùn vớt từ ngoài sông lắng thành
đất lạ vừa ấm hơi người, vừa mới nên quen đã tuột khỏi giấc mộng Cây Đời của
cha...
Không một thứ
giấy tờ, văn bản. Không một quyết định rõ ràng!
Ông trở nên
trầm lặng, như dòng sông đánh trôi hết phù sa.
Nước mắt và
nhựa cây lặn vào trong ruột người, ruột đất!
***
Khu vườn đất
bị cắt ra thành vườn dược liệu cho Trạm xá làm thành tích cũng chỉ èo ọt được
vài năm rồi bỏ hoang, đám cỏ mọc, đám ương dây khoai. Những buổi hoàng hôn tím ngắt
vòm trời, những đêm trăng lạnh lẽo, những ngày mưa dầm dề, cha tôi thường đứng
thẫn thờ bên hàng rào râm bụt nhìn ra. Cha không nói, nhưng tôi biết ông buồn và
đau ghê lắm. Lòng tôi cũng se lại, mênh mang nỗi ngậm ngùi thương cha mà bất
lực không làm sao được, không biết cách nào để gỡ. Khu vườn lạnh như một khoảng
nghĩa địa, ẩn hiện những bóng ma không rõ hình hài. Đất của mình vật lên mà nay
như vô chủ. Đất của mình nằm ngay dưới chân mà cha không dám cúi xuống, động tay
vào! Thèm một nhát cuốc cho hòn đất vật lên phơi nắng, muốn dâm xuống đó một
vài mầm cây, mà đành lặng lẽ nhìn mùa trồng trọt trôi đi!
Đục nước béo
cò. Là tay ranh ma, lươn lẹo, gã trưởng thôn Kiết vẫn tìm cách thôn tính, chiếm
đoạt một miếng đất của nhà tôi. Lợi dụng khoảng trống những ngày HTX rệu rã, khu
vườn không người trông coi, gã dựng lên một màn kịch bố con cãi nhau ác liệt. Cũng
lạ cho cái gia đình này, đã thành thói quen, cứ mỗi khi có giỗ chạp, cha chú,
anh em, con cháu ngồi mâm cỗ là rượu vào lời ra, cãi, đánh chửi nhau lộn tùng
phèo. Hàng xóm điếc tai, thành quen, dẫu chúng họ cầm dao cầm gậy đuổi nhau,
đánh nhau đổ máu, cũng chẳng ai dám sang can. Lần ấy, gã chửi bới om xòm rồi đuổi
thằng con lớn ra ở riêng. Thằng con nằn nèo xã cho mượn một khoảnh đất phía tây
khu vườn, đắp nền dựng tạm một túp nhà gianh. Để lâu cứt trâu hóa bùn! Bây giờ
thì khoảnh đất mượn ấy đã được hợp lý hóa, sổ đỏ hẳn hoi thành đất nhà nó. Căn
nhà xây, lợp ngói chễm chệ mọc lên.
Không thấy ông
Việt Minh nào một thuở trốn ẩn ở nhà cha tôi đến hỏi han. Chỉ những người thân
thích đến an ủi, sẻ chia. Cũng có người bạo mồm ta thán, vuốt đuôi. Lời nói gió
bay lên trời. Họ cũng chẳng thể tác động, giải quyết được việc gì. Mẹ tôi đâm
ngớ ngẩn hàng tháng trời trước những sào vườn, những vạt đất nửa đời đổ bao
nhiêu mồ hôi, công sức và trồng cấy gieo ươm.
Bỏng tay ai
người ấy giãy.
Ngẫm vào thời
buổi bây giờ mới thấy cha tôi thật kiên trì chịu đựng. Mất ba, bẩy chục mét
vuông đất vì Dự án này Dự án nọ chạy qua, người đời thời nay còn xót xa quặn
thắt, đau tiếc, kiện cáo hết địa phương lên trung ương. Những ai nằm trong
diện, còn được đền bù, dù ít dù nhiều cũng đỡ sái sẩm, cũng dịu bớt thiệt thòi.
Đằng này, cha tôi hoàn toàn mất trắng! Đất xôi mật mà bỗng dưng vô vị. Ai đó
hãy đặt chính mình vào chỗ cha tôi, mất đất, mất vườn, mất mùa hoa trái, chắc
sẽ hiểu, sẽ ngấm nỗi buồn, nỗi đau này tê buốt ra sao! Có đảng viên trong làng,
con đường liên xã khi nâng cấp chỗ cong chạy vòng qua sát vườn nhà, mà đồng chí
ấy đâu có dám bỏ ra lấy một vài thước để công trình nắn lại mặt đường cho
thẳng, cho rộng thêm chút ít! Đồng chí cán bộ đảng viên nọ trong quá trình công
tác bớt được miếng đất ngoài khoán của dân, cấy chui trốn sản lượng bao năm
nay, đến khi dân phát hiện ra, đòi lại trả về quỹ đất cho xã; kiên quyết không
nhả, còn thách đố với dân!...
Kể như vậy để
biết cha tôi quả là khỏe chịu! Miếng cơm do hạt gạo mình làm, do mình thổi nấu được,
đang nhai trong miệng mà còn bị giật cho bằng đùn ra! Cha tôi vẫn dạy các con:
Chữ Nhẫn là Vàng! Cho đến bây giờ tôi cũng vẫn không tưởng tượng nổi sao cha
tôi lại có một khả năng chịu đựng như vậy. Hay cha là người của Phật mà tôi
không biết?
Muôn năm đất
vẫn là vàng. Xin mọi người hãy thử đau một lần như cha !
Hiện giờ, trên
mảnh đất xưa của ông bà ông vải, của cha mẹ tôi đã năm, sáu gia đình đến ở,
sinh con đẻ cháu. Họ đều là những người tự dưng “của đi tìm người”. Có người có
đất có nhà hẳn hoi, nhưng phòng xa “người đẻ, đất không đẻ”, đánh bài nhường
lại con cháu để mình đi lấy đất khác cho rộng rãi. Có người xin miếng làm vốn để
đấy, rồi bán lại kiếm lời... Đến đây lập gia thất, họ chẳng mất một đồng xu nào
mua đất, chẳng mất thẻ hương nào cho người vật đất. Cha tôi ra ngõ gặp họ, chào
họ. Cha cười như mếu. Họ cũng tỏ vẻ cảm thông, để được nhà tôi cho nhờ vả cây
củi, ấm nước. Cha cũng chẳng tiếc ai. Tiếc làm gì. Đất cát, của cải y phù vân.
Tình người mới là đáng quý, ra trông thấy nhau vào trông thấy nhau. Lời nói
không mất tiền mua!
Khoảnh đất
phía đông, kể ra đã phân cho một gia đình liệt sĩ-bố mẹ của liệt sĩ Nguyễn Công
Bao. Song vì nhà Bao vốn ở ngoài đồng thuộc diện di dời để xã thực hiện kế
hoạch khoanh vùng kẻ khoảnh, dồn điển đổi thửa “đưa HTX tiến lên làm ăn lớn!”.
Nhưng gia đình liệt sĩ nghèo khó, anh em tản mát đây đó làm ăn, họ không lo nổi
việc di chuyển nhà. Thêm nữa, bà mẹ lại phân vân. Còn nhớ rõ lời bà than vãn:
“Chỗ đất này là ruộng sâu chuyên cấy rau cần, nhà tôi nghèo lắm, lấy đâu công của
mà dâng đắp? Vả lại đây là đất cụ Tổng. Cụ phải làm cật lực, đổ mồ hôi trên dồn
mồ hôi dưới. Tôi chẳng nỡ lòng nào lấy không...”!
Sau đó, người
ta đã cho một gia đình dưới xóm Thầu Đâu đến làm đất ở.
***
Thời ấy, chưa
có hệ thống kênh mương Yên Lập, sản xuất và sinh hoạt đời sống của cư dân quê
tôi chỉ trông vào nước trời mưa xuống. Làng xóm nghèo khó, rất ít nhà có bể,
chủ yếu nhiều ang vại hứng nước mưa. Có người phải đi gạn từng ngụm nước từ
những vũng trâu đằm ngoài mương cạn. Chỉ mấy nhà có bể để chứa nước dùng. Đồng
ruộng chiêm khê mùa úng, cấy đứng gặt ngồi. Những canh hạn hán, cả làng thiếu
nước uống, cả làng rủ nhau qua đò sang gánh nước từ các giếng bên phố huyện.
Nhà tôi có một cái bể xây chứa tới hai mươi khối nước, vào hàng lớn nhất làng.
Nhưng cha mẹ tôi chỉ giúp, cứu khát cho bao nhiêu người. Lòng tốt ném vào Thiên
hạ- một thứ ánh sáng không dễ ai cũng nhìn thấy. Nhưng ít nhiều nó cũng làm cho
cây đời xanh lại, trong khi những cơn giông vẫn đùn lên phía chân trời.
Một đời vất vả
vì con, tin người, tin đời, âm thầm chịu đựng, cuối cùng cha mẹ vẫn chưa lành
tấm áo, chưa ngon miếng trầu! Bằng mồ hôi, máu thịt, bà nội và cha mẹ tôi đã
gồng mình làm con thuyền gia ổ họ Dương nổi lên trên dòng sông cuộc đời. Chửa
đi được mấy dặm. Đang chèo lái mát tay. Đã bỗng dưng mắc cạn, đắm trên “Trương
Lửa” (*) nơi cửa sông! Đáng tiếc, con thuyền chưa hề ọp ẹp, chưa hề bị mục gỗ, chưa
hề bị bung đường xảm hoặc rách nát cánh buồm! Những cơn gió đổi mùa đã đẩy cha
mẹ tôi vào bi kịch, tay trắng như người thua bạc! Đơn giản, cái bể nước nhà tôi
từng hằng năm cứu khát cho làng! Nhưng dân làng thì... không ai xúm vào cứu
được con thuyền của nhà tôi!
Cha tôi, cuộc đời
của Người “sắc sắc không không” như thế đấy!
-------------
(*) “Trương Lửa”: Tên một gò hoặc bãi cạn ngầm nơi cửa sông trên đường sông từ sông Chanh
ra vịnh Hạ Long. Người đi sông lái thuyền không thuộc luồng lạch rất dễ bị mắc
cạn vào đây.
(còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét