KÝ ỨC NGƯỜI CHA
Phần IV- Dư ba của đất
Vùng đồng
ruộng chua mặn cửa sông Bạch Đằng này, từ ngày trước chưa có ai dám nghĩ đem
các loại cây rau xanh về trồng. Lại thêm trận bão lớn tháng 8 năm Ất Mùi 1955
gây vỡ đê, nước biển tràn vào lụt trắng làng mạc, cánh đồng. Hai ba năm sau,
nắng mưa rửa bớt chua mặn, cư dân mới gieo cấy được lúa, trồng được khoai. Nhưng
chủ yếu cấy vụ mùa với các giống lúa tám đồng, tám xoan, lúa nếp; còn vụ chiêm
lẹt đẹt, chỉ cấy được mấy loại lúa chịu chua mặn như: chiêm đá, nếp hom. Lúa
chiêm đá cho hạt gạo màu nâu đen, khi nấu lên cho cơm cứng nhưng ăn bùi ngọt và
no lâu. Tháng ba tháng tư, trời làm hạn hán, đâu đâu ruộng đất cũng khô nẻ nứt
toác chân chim. Từ thượng tổng xuống hạ tổng miên man các cánh đồng hoa cỏ sò
bung lên vàng lóa mắt. Những bầy chim chiền chiện hót trầm bổng trong không
gian gió lùa trống rỗng, nghe buồn thê vắng. Các loại rau màu đối với cư dân
nơi đây thật xa lạ. Nhà có việc giỗ chạp, tết nhất phải sang chợ Rừng, chợ Rộc
mới mua được lá rau xanh, bó củ cải, mớ đậu về dùng. Nhiều người còn chưa biết
mô tê gì, gọi củ su hào là củ “thò lò”. Củ thò lò thái quân cờ xào với thịt mỡ
lợn đã là quý lắm.
Tiếc đất khu
trên đồng xứ Hậu Hương không cấy được lúa chiêm, cha tôi xin HTX, nhận khoán
mấy sào để làm vụ đông. Về chuyện cha tôi trồng rau màu, trồng cây thuốc lào
trên đồng đất chua mặn có thể nói như một huyền thoại.
Cắt sạch gốc
rạ, cha cuốc những hòn đất to như chiếc đấu chổng ngược lên rồi dùng vồ đập vỡ
nhỏ từng hòn, phơi nắng. Đất khô, lại xới lên đập lại, bở tơi như cám. Trời mùa
đông gió bấc rét căm căm, cha đập đất để chống rét, mồ hôi toát đẫm áo. Thuở
trẻ, mải mê dùi mài kinh sách, hết chức sắc lại mở hiệu buôn bán, hết ra Hồng
Gai, lại về Quảng Yên, Cống Mương... không biết cha học cày khi nào mà lúc cày,
cha theo trâu cắt sá cứ phăng phăng, thẳng tắp. Cha chăng dây đánh luống, nạo
sạch từng rãnh và bổ hốc rất đều đặn. Ai đi qua cũng phải lắc đầu khâm phục về
cách làm tỷ mẩn và đức tính kiên trì.
Cha sang các
chợ Hà Bắc lần mua hạt giống su hào, bắp cải Sa Pa, Trung
Quốc, cà chua, hành tỏi, và cả khoai tây, vừng, lạc... rồi đi Vĩnh Bảo, Tiên
Lãng mua giống thuốc lào về trồng. Để có nguồn nước ngọt tưới, ông đào rãnh,
tát gàu, dẫn từ dưới mương lên, đào hố sâu chứa tại chỗ. Nguồn phân để bón thì
hằng ngày mẹ tôi dậy sớm đi dọc các ngõ xóm đường làng nhặt phân chó. Chiều
chiều bà xuống chợ Cốc vào các gia đình đặt vại, xin nước giải đem về ngâm ủ
với lá mắm, lá xoan đâu. Cha tôi chăm bón, tưới tắm cây trồng rất chi cẩn thận.
Ruộng bao giờ cũng sạch tươm cỏ dại. Dù ít dù nhiều, vụ nào rau màu cũng xanh
tốt, cho củ quả to và bội thu. Những củ su hào Sa Pa to như
cái bát con. Su hào Trung Quốc to bằng chiếc đĩa tây. Những chùm cà chua chín
hồng lúc lỉu trĩu cành. Dưa hấu cho quả nằm lăn lóc như đàn lợn con. Ngô cho
bắp bằng chiếc chày giã cua. Lá thuốc lào xanh mướt, đan dày ắp ruộng...
Khát vọng
trồng trọt hấp dẫn như ma lực. Cha tôi bán cả bộ sập chiếu xếp bàng gỗ trắc cho
một gia đình làm nghề chã tôm, lấy tiền mua gạch cát xây một dãy chuồng trại
chăn nuôi. Cha sắp đặt các gian gồm ô nuôi trâu, nuôi lợn, ô nuôi gà, ngăn chứa
phân, chứa nước thải theo một hệ thống xuyên suốt rất sạch sẽ. Cha còn xây hẳn
một cái “hố xí hai ngăn” ngay đầu ngõ. Mẹ tôi thắc mắc sao không làm hố xí đằng
sau nhà? Cha cười bảo:
-Đặt hố xí ở
đây mới tiện dụng! Vừa hợp vệ sinh cho nhà mình vừa phục vụ bà con lối xóm! Nhiều
người đến mới có nhiều phân bắc. Nhiều phân bắc tưới bón, thuốc lào mới hương
thơm vị đậm!
Nói theo cách nói bây giờ: bỏ vốn “tạo điều
kiện thu hút đầu tư”, đầu tư được nhiều sẽ có nhiều dự án để tăng trưởng kinh
tế. Cha tôi đầu tư hố xí hai ngăn để thu hút... nguồn phân bắc về ủ, thì sản
phẩm thuốc lào mới đạt chất lượng cao!
Có lẽ cha tôi
vẫn khôn nguôi nhớ vị khói thuốc lào thời buôn bán ở phố chợ Quảng Yên? Từng bỏ
công đi thăm đất thuốc Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, ông cho rằng loại thuốc này sẽ hợp
với thủy thổ chua mặn vùng Hà Nam.
Ông đáu đáu muốn có một sản phẩm thuốc lào ngay trên đồng đất bên sông Bạch
Đằng. Màu rau quả, màu lá thuốc lào đã được ông phết lên bức tranh đơn điệu của
cánh đồng làng tôi. Cha tôi trồng cây thuốc công phu lắm. Nào chọn đất xốp gieo
hạt, nâng mầm giống như nấng con thơ. Nào ruống cây, đánh muội, tỉa lá, ngắt
chồi tập trung cho lá cái tích tụ nhiều vị đậm. Cha bảo mẹ tôi nấu cơm nếp thật
dẻo, luyện kỹ cắm đầu que để quệt vào mặt trái lá thuốc đánh muội. Mùa thu hái,
lá thuốc sạch như trang giấy.
Ban đầu, cha
phải thuê thợ bên Vĩnh Bảo, Tiền An về thái. Cơm bưng nước rót. Kính thợ như
kính thầy dạy. Sau nhiều vụ thuần thuộc, ông sắm dao cầu thái lấy. Cha vào rừng
Yên Lập vác tre nứa về chuốt nan, đan phên phơi thuốc. Những phên thuốc lào rải
ran trong vườn, trong sân, ra đầu ngõ xóm. Không ít kẻ qua lại thỉnh thoảng lại
véo trộm một miếng thuốc còn ngai ngái góc phên. Cha cũng chẳng bảo sao. Được
nắng, thuốc khô giòn, ông phun nước vỏ đâng lên phên hồ thuốc. Thuốc chuyển màu
nâu nhuốm vàng rất bắt mắt và thơm ngon. Để giữ lâu ngày, ông đem đóng bánh
bằng lá chuối khô, lấy chăn bông bọc ủ trong chum vại rõ kín. Mỗi khi dỡ ra,
mùi thuốc tỏa lựng khắp ngôi nhà gỗ cổ năm gian. Ai đến mua, cha cũng bán rẻ,
lấy công làm lãi. Mấy tay cán bộ ủy ban và quản trị quen mui thấy mùi ăn mãi,
luôn lui tới. Con chó nhà sủa mỏi răng. Có tay láu cá, hết lời ca tụng: -Thuốc
lào của thầy ngon thơm nhất tổng! Nhả khói chẳng khác gì được lên tiên! Rồi anh
ta giả đò, đánh bài khôn vặt: -Hôm qua thầy bán cho con gói thuốc rẻ thật!
Nhưng hình như là... loại ba hay sao ấy. Hút cứ gây gây!
Thừa biết hắn
muốn gì, cha đáp một cách hóm hỉnh: -Tại sáng quên súc miệng, nên mồm chú thối!
Mồm thối, hút không ngon là phải! Đợi đấy, bù cho gói khác!
Một đồn ba, ba
đồn bẩy. Dân tình đây đó chê bai “chưa ai xưa nay lại trồng su hào bắp cải ở
đồng đất chua mặn này”, “ông Tổng lắm sức, phí công”, “Ngu công dời núi”, “dã
tràng xe cát biển Đông”... Dần dần, họ kéo đến xem xét, ăn thử, rồi xin, rồi
mua. Cha tôi đã minh chứng cho người làng biết: đất chẳng phụ người, chỉ có
người phụ đất! Dù mặn chua, hoang hóa mấy, khi gia công cải tạo, đất nào cũng cho
khả năng trồng trọt được. Từ những năm Sáu mươi thế kỷ trước, chính ông đã là
“nhà nông gia” đầu tiên của vùng đất Hà Nam. Chuyện cụ Tổng Tiến cuốc
ruộng, đập đất trồng rau, trồng thuốc lào đến giờ vẫn còn được lưu truyền trong
dân gian. Sau này các làng mới xuất hiện ông Quỹ Vãng, ông Vệ Phóng, ông Ký
Chừng, Thủ Thích... Và cũng sau này nghe cha kể lại tôi mới biết những ngày
sang Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, chặng đường gần một trăm cây số ông đã đi bộ bằng đôi
chân đất của một lão nông!
***
Có điều cũng
rất lạ, không thể giải thích được, là: Khi gia đình dưới xóm khác ấy đến mảnh
đất đầu ngõ nhà tôi xây nhà dựng cửa trú ngụ được vài năm, thì tự dưng hai bố
mẹ lăn ra ốm, nằm liệt vị, con cháu hầu hạ giường cứt chiếu đái mấy năm liền
mới nhắm được mắt. Rồi ông ta (nghe đâu sẽ là cán bộ nguồn của xã) chết vì bệnh
ung thư. Tiếp theo, hai đứa con trai: một lớn, một thứ, cũng lần lượt mắc bệnh
hiểm mà ra đi. Cũng vậy, một gia đình khác ở mảnh đất phía tây, vợ chồng làm ăn
như nước lên, anh chồng nghe bạn bỏ đội thợ xây đang thầu khoán công trình, đi
lao động nước ngoài theo đường “chui” bị chết bất đắc kỳ tử, tưởng không mang
được nắm tro về quê quán... Trước đó, cũng trên mảnh đất này còn có một dãy
giao thông hào do tay Phạm Tới bắt các cụ lão thành đào để ngăn cách vườn hoài
sơn với cánh đồng. Lâu ngày giao thông hào bồi nông dần thành mương, nước chỉ
xâm xấp. Bà mợ hàng xóm tôi đi hái rau muống, cho đứa con gái 5 tuổi đi theo.
Đứa bé lẫm chẫm trên bở ruộng. Mẹ mải hái rau. Luống cuống thế nào nó cúi nhặt
quả dưa rơi dưới mương, ngã nằm úp sấp xuống bùn. Không ai biết. Khi có người
đi qua phát hiện thì đứa bé đã chết tự lúc nào. Thật vô cùng đau đớn. Người
làng hỏi nhau: Nếu vườn đất cụ Tổng không bị tước đoạt, nếu tay Phạm Tới không
đào con hào này thì đứa bé gái ấy liệu có thiệt phận không? Dư luận làng xã một
thời gian đồn ầm lên không biết những cái chết trùng tang này do đâu? Do làm
nhà “sát hướng” “sát chủ” hay do tâm linh “người mất đất còn”... ?
Trước những
gương liếp tai hoải ấy, có người, đêm đêm thường dậy ra sân thắp hương lẳng
lặng khấn vái lên trời, đăm đăm khẩn cầu che chở. Có người còn nằm mơ thấy khi
một ông nông dân mặt mũi lấm lem bụi cát, lúc một cụ già giống như thổ địa
chống gậy lên... đòi đất!
Ở trên đất ấy,
cũng có người được thăng quan tiến chức hàng xã, diều được gió bay lên. Đất đai
ấy chẳng khác gì mâm cỗ đã bày sẵn, người đời chỉ việc đến ngồi! Đã có lúc tôi
đem nỗi niềm tâm sự với những người trẻ tuổi trong số họ, những mong ít nhất
cũng giúp họ hiểu phần nào về cội rễ mảnh đất dưới chân họ không phải từ trên
trời rơi xuống. Nhưng họ chỉ nghe lơ đãng như con nghé con nghe tiếng đàn vẳng
lên đâu đó mà thôi. Họ-sản phẩm của thời @ chỉ việc khoanh đùi, hưởng thụ tiện
nghi tiện dụng, vô tâm và lãnh cảm với quá khứ, với những xa xót của nông dân
một nắng hai sương. Cho nên thời hiện tại, do khiếm khuyết về giáo dục, không
ít người lớp trẻ họ quay mặt với tiền nhân, không biết về nguồn cội quê hương, không
thuộc lịch sử nước nhà cũng đương nhiên thôi!
Ngẫm ra, cái
câu “ngồi mát ăn bát vàng” có lẽ bây giờ mới thực đúng nghĩa!
***
Không gian
trước cửa nhà tôi trước đây liền kề với cánh đồng. Mở cửa ra là thấy lúa, thấy
nắng mênh mang, thấy sương giăng chân làng Yên Đông, Hải Yến xa xa, thấy mưa
bay mờ ảo lẫn hương đồng gió nội. Hoàng hôn khép ngõ vọng lên tiếng cá đớp mồi,
tiếng cuốc kêu dóng dả ngoài ao, tiếng ếch nhái điểm lọp đọp bờ tre như nhịp
chày giã gạo nện canh khuya. Vậy mà bây giờ không gian ấy chen chúc những mái
nhà, tường rào, cổng ngõ, chen chúc tiếng cãi cọ nhau tranh giành từng cm đất. Cống
rãnh thì ứ đọng, bế tắc. Chếch mé xa kia khu nghĩa địa ngồn ngộn mồ mả xây lát
bê tông, ốp dán gạch màu. Bức tranh xóm quê bao đời thanh sạch ban mai nhuốm
màu xám ngoét, vô cảm. Ngôi nhà cổ bao đời của nhà tôi dần dần bị đẩy lùn xuống
như nằm dưới đáy ao. Hàng xóm thì nhiều nhà ích kỷ, ăn cháo đá bát. Giọt nước
mái ngói rớt xuống chúng họ cũng la lối, thắc mắc. Đông chiếm tây chiếm. Nay xê
một tẹm giậu râm bụt. Mai dịch một tí đất vườn. Diện tích đất nhà tôi mỗi ngày một
hụt đi. Vừa qua nhân dịp nâng cấp, tôn tạo lại ngôi nhà tôi đã phải xây luôn cả
tường rào, định vị lại mốc giới thổ cư...
Có lần mẹ tôi
ôm mặt khóc hu hu trong đêm:
-Thần Phật
trên giời cao có nhìn thấy gì không ?
(Còn
nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét