KÝ ỨC NGƯỜI CHA
Phần V- Chữ Nhẫn là
Vàng
Bản năng cố
hữu xuất thân từ con nhà làm ăn, nên khi lỗi thời, cha tôi vẫn không thể nguôi
quên việc nông gia. Là xã viên HTX nông nghiệp, cho đến lúc cận tuổi bẩy mươi
cha vẫn ra đồng nhổ mạ lấy điểm. Cha lao động thực thà, không biết dối dí với
ai. Có sao nói vậy, làm vậy, không gia giảm một ly một điểm để lấy khống thóc
như nhiều người xung quanh chỉ cốt đánh dấu “gọng vó” dây máu ăn phần.
Tay Kiết
trưởng thôn, chúa chọn việc, cứ việc nào dễ là phần hắn. Đang cuốc ruộng, đang
xẻ đất đào mương ngon lành, gặp phải đám khó làm là gã dở bệnh đau bụng, lên bờ
ngồi nhăn nhó. Nhiều lần như vậy hóa nhàm. Xã viên bảo: Sắp đến giờ... “thấy
tháng” rồi đấy! Hồi ấy gã đã khôn ngoan, biết tranh thủ, biếu xén bác sĩ để
được cấp một tờ giấy “mắc bệnh đau bụng kinh niên, tránh lao động nặng” để hằng
năm được miễn trừ lao động công ích đắp đê, làm thủy lợi... Vụ nhổ mạ, gã lùa
đám con đi sớm, xông thẳng vào giữa sào mạ nhổ xí phần một đám để đấy, rồi gã bảng
lảng quanh đồng, ra vẻ một cán bộ đội trưởng tận tụy lắm, nào kiểm tra bờ nậm,
nào xem xét thợ mạ, đánh “gọng vó” thợ cấy... Cha tôi thì lại nhổ từ luống
ngoài nhổ vào. Mạ bết đất khó nhổ, kéo gập lưng, đập rễ sưng tấy cả hai đầu
gối. Khi chuyển mạ, cha cấp tập gánh xuống bờ sông. Lừa lúc cha không để ý,
Kiết du đám mạ của gã sang lối mạ của ông. Vậy là bao nhiêu mạ cha cũng thực
thà gánh hết. Có lần phát hiện ra dấu lạt buộc mạ không phải tay xoắn của cha
con tôi, tôi mách cha: -Thầy ơi! Mấy bó mạ này không phải của nhà mình nhổ, mà
của nhà anh Kiết lẫn sang... Cha tôi cất giọng bình thường: -Của ai cũng là hợp
tác. Đội vào chợ, gánh cũng vào chợ. Chịu khó gánh cho thợ cấy kịp mạ con ạ!
Kiết nghe tiếng, liền be cái giọng gắt như mắm tôm:
-Bố láo! Ai
thèm để lẫn! Cha tôi vội xua tay:
-Ấy chết! Tôi
có dám nói gì đâu! Mạ nào tôi cũng gánh! Anh đừng chấp em nó!
Tôi ấm ức lắm!
Gã là hàng con cháu mà hỗn láo với cha tôi là bậc cha bác. Chẳng gì nhà tôi với
nhà gã còn dây mơ rễ má, còn chị em đằng ngoại, về đằng cụ nội tôi. Thời cha
tôi làm lý trưởng, bà nội và cha tôi còn nuôi nấng người nhà gã nữa kia. Bên
chi ổ nhà gã có hai ông chú, một mù một câm. Ông chú mù thì gã cho ở riêng dưới
một túp lều gá cạnh chái nhà trên. Còn ông chú câm, gọi là ông Ba Xâm thì bà
tôi nhận nuôi từ tấm bé. Ông Ba Xâm tuy câm điếc nhưng khỏe mạnh, thật thà, làm
việc rất siêng năng, sáng dạ... Chỉ cần cha tôi ra hiệu là ông đã hiểu ý cha
tôi bảo gì, cần gì, ông làm rất chính xác. Dạo ấy khó khăn lắm, thêm một miệng
ăn là thêm một nỗi lo. Nhưng cha vẫn vui vẻ nuôi ông, tạo việc cho ông làm,
chăm sóc khi ốm đau, coi ông như lão bộc trong nhà, như người em ruột vậy. Mẹ
Cả tôi kể: Hồi cải cách ruộng đất, tay đội trưởng “đội Ba cùng” và các “chuỗi
rễ” xúi giục, xỉa tay ra hiệu bắt Ba Xâm đấu tố bà. Nhưng Ba Xâm lắc đầu không
chịu. Ông cự lại, vớ cây chổi xể đập túi bụi rồi quay đi đánh một phát rắm rõ
to vào mặt thằng Kiết cùng tay đội đứng bên. Gã và một người con rể của mẹ Cả
nghe Đội mớm lời, vẫn đấu tố bà thậm tệ suốt buổi sáng ngoài sân nhà thờ họ.
Mà cũng lạ
thay, thời buổi gió đổi chiều, nhà thằng cha này lại phát về cái chức “thôn
đội”. Trước đó, thời cải cách ruộng đất, tay Bẩu, em trai gã từ một “chuỗi, rễ”
của Đội Ba cùng, sang thời hợp tác xã cũng làm trưởng thôn. Thằng cha này hay
to mồm. Dân chúng lại sợ kẻ to mồm. Cộng thêm ổ anh em nhà gã chiếm tới non nửa
cái thôn này. Nên khi họp bầu, bà con chỉ cốt giơ tay cho xong việc. Tôi nhớ
như in một chuyện hồi tôi học lớp năm. Vào một buổi trưa tôi và thằng Miềng
hàng xóm đang chơi bi dưới mái ngõ cổng nhà tôi thì nghe ngoài bờ ao cạnh vườn
cam có tiếng “xì xì...” cùng tiếng kêu “kít kít...”. Nhìn ra ao thấy chị Tá vợ
Bẩu đang vừa xua vừa gọi bầy ngan cốm của nhà bên ấy. Chị ta lấy sành gạch ném xuống
ao tùm tùm cho chúng sợ mà chạy vào bờ. Tưởng chuyện chỉ có thế. Ai ngờ chiều
tối đi làm ở đâu về, tay Bẩu hùng hổ sang nhà tôi, kéo tôi ra ngõ đánh đấm túi
bụi: -Này này! Ai bảo mày ném chết ngan nhà tao ngoài ao? Tôi chẳng hiểu gì cả,
cố gắng chống cự, thoát ra khỏi tay hắn! Chiều tối, cha mẹ tôi mới về. Tôi kể
lại đầu đuôi. Cha gặng tôi: Thế con có ném vào đám ngan nhà người ta thật
không? Tôi chạy đi gọi thằng Miềng sang làm chứng. Miềng nói: Chúng cháu chỉ
ngồi chơi bi, không biết gì cả! Sau mẹ tôi sang nhà Bẩu hỏi, mụ Tá mới khai:
-Cháu sợ nhà cháu nó đánh, nên đổ liều cho chú ấy. Tưởng qua chuyện, ai ngờ...
Thôi bà thông cảm!
Ngồi trầm ngâm
trên bộ tràng kỷ, cha tôi chỉ nhắc:
-Thôi không
thèm chấp kẻ tiểu nhân con ạ! Chữ Nhẫn là Vàng!
***
Thời HTX, xã
viên được để lại một ít ruộng gọi là ruộng 5 phần trăm hoặc “đầu thước” làm
kinh tế phụ gia đình. Nhà tôi HTX trừ lại ngay trong diện tích vườn.
Có thể nói khuôn
viên nhà tôi lúc này như một trang trại: vườn cây, ao cá, rau quả xanh tươi mùa
nào thức ấy. Các bà hàng khô ngồi chợ Cốc thay nhau đến đặt hàng. Cả nhà tôi
phải thu hái, gói bọc, làm việc tận khuya để sáng ra có hàng giao cho họ. Cha
tôi mỗi ngày mái tóc một bạc nhanh. Mẹ tôi tấm lưng thêm còm cõi. Hàng xóm
nhiều người tốt, nhưng cũng không ít kẻ nhòm ngó, ghen ăn tức ở. Họ nêu ngoài
cuộc họp, nói bóng nói gió “nhà ông ấy bà nọ, kinh tế cá thể chú trọng hơn kinh
tế hợp tác, ruộng phần trăm tốt hơn ruộng tập thể...”! Có đêm, bọn trộm chui
qua bờ tre, vào vườn ăn trộm cam bưởi, đóng hàng bao tải ra ngoài ruộng. Chúng
bỏ lại góc vườn chiếc rỉa tre xỉa cá, mũi bịt đồng nhọn hoắt. Ôi! Đây là cái
rỉa của thằng Hai Mấu! Tôi nhận được ngay đó là chiếc rỉa cá của anh em thằng
cháu cách nhà tôi một nóc nhà. Mẹ nó là con gái của bà chị gái mẹ Cả tôi. Cha tôi
đem một túi cam sang biếu cùng chiếc rỉa trả lại, rồi về tặc miệng: Thôi! Biết
làm sao được, lọt sàng xuống nia! Có thiếu có thèm, nó mới lấy của mình. Ai nỡ mổ
mèo lấy cá?
***
Sào ruộng phần
trăm cấy rau muống trước cửa, ngoài phía nam vườn, mẹ tôi chăm bón liền tay nên
được hái suốt đầu tháng đến cuối tháng, quay đi quay lại ngày nào cũng có rau
ra chợ. Rau đi, ngô gạo lại về. Đắp đổi giần sàng sớm chiều qua bữa. Nhà mụ Bỉ
Hợi ở cạnh sào rau, nuôi đàn lợn nái, có đám lợn bột đang rãu ăn. Ngày nào mụ
cũng thả lợn ra, chúng ào xuống ruộng rau muống như vịt chạy đồng. Nhiều ngày
như vậy, nhìn ruộng rau muống tan nát từng mảng, mẹ tôi xót của, liền sang mắng
vốn. Mụ Bỉ Hợi vẫn chứng nào tật ấy. Một hôm tức quá, tôi cầm chiếc đòn gánh
chạy ra quẳng cho lũ lợn con một trận. Chúng kêu rầm rĩ, chạy nháo nhác. Chưa
rõ sấp ngửa gì mụ Bỉ Hợi liền huy động cả thằng chồng và mấy đứa con sang nhà
hoạnh họe rồi lao vào đánh tôi. Tôi cũng không vừa, chống trả lại quyết liệt.
Cha tôi đứng ngoài cứ thế lễ hai vợ chồng nó như tế sao: Thôi thôi! Chú van anh
chị, van các cháu tha em nó. Chú sẽ dạy con chú! Con lợn nào suy suyển chú đền...
Nhưng thực tế,
đám lợn chả làm sao. Đêm ấy, mẹ xuýt xoa dịt thuốc các vết thương cho tôi. Cha
lại điệp khúc: Con ơi chữ Nhẫn là Vàng!
***
Đi các nơi thấy
dân tình làm ăn, cha tôi rất hay chú ý học hỏi. Ông thường bảo: Không gì học
nhanh bằng học trong thiên hạ!
Năm ấy, cha
sang tận xưởng cơ khí Cộng Đồng bên Hiệp Hòa mua một chiếc xe bò cải tiến. Cha
lĩu kĩu kéo chiếc xe về làng trong bao ánh mắt ngạc nhiên. Người làng coi đây
là một sự lạ lùng vì từ xa xưa quê tôi là vùng sông ngòi chằng chịt, dân đi lại
chỉ bằng thuyền lẵng, đò dọc. Nhà tôi từ đó dùng xe cải tiến chở thóc, chở rơm,
chở bùn về nhà, chở phân ra ruộng rất tiện. Dần dần họ hàng, xóm láng đánh
tiếng đến mượn. Cha tôi đều cho cả. Một lần, mụ Tỏa nhà gần đó sang mượn xe,
làm hỏng, tuột một bên bánh, đem sang trả. Mụ lắp hờ lại, đánh dâm như không có
chuyện gì. Hôm sau mẹ tôi vô tình lấy xe đi chở rơm, bánh xe bật tung khỏi
trục, lăn lông lốc. Bà vội chạy sang mụ Tỏa hỏi cho ra nhẽ. Mụ liền hoa chân
múa tay, loa lên chối tội rồi còn đến ngõ tốc váy chửi mẹ tôi như hát. Cha tôi
đặt quyển sách đang đọc xuống tràng kỷ, bước ra can mẹ vào nhà. Ông chậm rãi: -Thôi,
chú xin lỗi cháu! Để chú chữa lại là xong ngay thôi mà!... Rồi ông giục mẹ tôi:
-Bà đi vào cho tôi nhờ! Chữ Nhẫn là Vàng!
Bên mâm cơm đạm
bạc chiều tối, cha lại răn nhủ vợ con: Chữ Nhẫn là Vàng!
***
Quê tôi có lễ
hội Rước Người- một phong tục tôn vinh tuổi già, mừng Thượng Thọ cho các cụ cao
tuổi. Tám mươi thì rước bằng võng đào. Chín mươi thì rước bằng kiệu đỏ. Cứ ngày
mồng 7 tháng Giêng âm lịch hằng năm là làng quê tưng bừng lễ hội với những đám
rước nghinh rước các cụ Thượng về Miếu Tiên Công bái tạ tổ tiên. Tổ tiên cư dân
Hà Nam
là mười chín vị Tiên Công. Cha tôi kể: Năm 1434, vua Lê Thái Tông (1434-1442) mở
rộng kinh thành Thăng Long, hạ chiếu khuyến dân dời đi chỗ khác làm ăn sinh
sống. Đi đến đâu dân được phép thấy đất hoang thì khai khẩn, lập nên làng mạc
đến đó. Các cụ đã rủ nhau cùng xuôi thuyền dọc sông Hồng, qua sông Bạch Đằng;
đến cửa biển trấn An Bang thì gặp bãi sú vẹt rừng ngập mặn. Trong một đêm mưa,
chợt nghe tiếng ếch kêu văng vẳng dưới chân mây. Đoán biết nơi này có thể có
nước ngọt, các cụ đã rẽ rừng sú tìm theo; thì gặp ngay một gò bãi cao um tùm cỏ
sậy, năn lác, giữa có một hố sâu đầy nước. Mọi người nếm thử thấy rõ ràng nước
ngọt và cùng nhau uống cho thoả cơn khát. Họ reo vui và bàn tính chuyện cắm
thuyền dừng lại. Sau đó đã đắp đê, khai khẩn đất hoang lập nên hương ấp đầu
tiên, Lâu đời, thành vùng làng đảo Hà Nam ngày nay.
Hôm bố tay Phạm
Tới lên thượng Thọ tám mươi, hắn đặt tôi vẽ một bộ trang trí. Trong đó có một
đôi câu đồi. Hắn vào xin chữ cha tôi cẩn thận. Lục trong kho tàng kiến thức,
cha tìm được một đôi câu đối hợp cảnh khá hay:
Bát dật ban y xưng thượng thọ
Tam xuân hiến tửu lạc cao đường.
(Tạm dịch: Tám mươi tuổi trời ban cho chiếc áo thượng
thọ. Ba tháng xuân dâng tiệc rượu vui giữa nhà cao)
Tôi trình bày đôi
câu đối đó theo lối viết thảo, chữ vàng trên nền đỏ tươi lồng nét hoa văn chìm rất
đẹp. Hắn cũng rất hài lòng. Nhưng trong khi chúc Thọ, có mấy thằng cha bợm rượu
cố tình xuyên tạc, tán đểu, chọc tức Phạm Tới, nhằm vào đôi câu đối. “Bát dật”
có nghĩa là dậm dật, giành giật, nhà Phạm Tới chuyên đi giật của người khác. “Tam
xuân”, ba ngày xuân rót rượu, rót rượu ba ngày để tưới lên mộ, nghĩa là cụ
Thượng mừng thọ xong sẽ chết! v.v và v.v... Cuộc mừng thọ kéo dài ba bốn ngày
mới vãn, hắn vào mắng vốn cha tôi cho đôi câu đối chơi xỏ hắn! Đàn bầu đem gẩy
tai trâu! Cha đành ngậm đắng nuốt cay, không sao giải thích nổi cho bọn dốt nát
vỡ ra cái đẹp cái hay! Cũng may cho cha tôi, cụ thượng, ông bố hắn lại sống đến
gần tuổi 90 mới chết. Lo đám ma xong, hắn mới tới nhà xin lỗi cha tôi và thấy
cái dại của mình.
***
Lại quay lại
thời gian cha tôi lâm bệnh. Thuật- em trai tôi từ TP Hồ Chí Minh về thăm quê.
Hai vợ chồng cùng đứa con trai 5 tháng còn bế tay. Theo linh cảm mách bảo mà
về, chứ thư từ thì chúng tôi chưa kịp liên lạc vào trong đó để báo tin cha ốm
nặng. Khi đặt chân tới ngõ quê, vợ chồng em mới biết cha đang hấp hối. Hình như
cha đã cố đợi?
Thế rồi, một tuần sau.
Anh chị em chúng tôi vẫn túc trực quanh cha. Thì chiều hôm ấy ngoài ngõ bỗng ầm
ầm tiếng hô hoán. Người trong xóm thấy thằng Bắc Đĩ cầm dao nhọn đuổi thằng Nghiêu Phỗng từ trong chiếu bạc nhà nó.
Chúng chạy thông thiên ngõ nọ sang ngõ kia, rồi vào ngõ nhà tôi, náo động như
hai con trâu chọi đuổi nhau. Mọi người trong các nhà đổ ra xem mà không ai dám
can. Dạo đó thời buổi khó khăn, tình hình an ninh làng xã luôn xảy ra nhiều
tiêu cực. Chỗ nào cũng nhan nhản chiếu bạc, trộm cắp. Ngay xóm tôi cũng mấy
chiếu bạc, được thua là đánh chửi nhau om xòm. Quá mù ra mưa, ít ai thèm chú
ý hoặc can gián vì sợ “cháy thành vạ lây”.
Lúc thằng Bắc Đĩ túm được
thằng Nghiêu Phỗng, nó hằm hằm giơ dao nhọn lên đâm thì cũng là lúc Thuật chạy
tới, bổ nhào vào ngăn hai đứa. Thằng Bắc Đĩ đang cơn say máu và đà dao đâm. Con
dao cắm phập ngay vào háng Thuật. Mọi người kinh hãi rú lên. Thuật ngã khuỵu
xuống vạ cỏ... trong nhà, ngoài sân nhà tôi ồn ào mãi tới đêm. Người thì bảo:
"Sao chú ấy lại dại thế? Trâu bò húc nhau mặc kệ nó. Tự dưng đem đầu vào
chịu!" Có người lại tấm tắc: "Anh ấy dũng cảm như Lục Vân Tiên. Nếu
không thằng Nghiêu Phỗng sẽ đi đời nhà ma!" Dường như hiểu chuyện, cha tôi gượng đầu dậy, nhưng
không nổi. Tôi đỡ cho cha nằm lại. Cha hổn hển từng tiếng:
- Nó có sao không? Cứu
người... là... tốt... phúc... nhà ta... đấy... con ơi...
***
Nhà tôi trước
còn có một bộ tràng kỷ cuốn, gỗ gụ đóng liền, khá đẹp và chắc chắn. Bộ này bà
nội tôi mua lại của một ông cậu bên ngoại. Còn một bộ tràng kỷ chấn song con
tiện của cô Bằng, thường gọi là bà Cửu An lại bán cho ông cậu đó. Bộ này tuy
điêu khắc tinh xảo, nhưng yếu khung. Thời gian trôi đi, hầu như ít người chú ý
đến những bộ đồ gỗ này, vì lo ăn còn chảy máu mắt, huống chi bàn ghế có cũng
được mà không cũng chẳng sao.
Dạo ấy, cha mẹ
tôi đang mải mê việc móc bùn dâng vườn. Một hôm cha lại chỗ chú Thủy con cụ
Hương chơi. Cụ Hương là em ruột bà nội tôi. Đang ngồi uống trà, cha tôi ngắm đi
ngắm lại bộ tràng kỷ nhà chú Thủy: Bộ này của bà Cửu An, thuộc hàng chấn song
con tiện, điêu khắc điển chùm nho con sóc thế mà hay! Chú Thủy bắt chuyện luôn:
-Loại này chỉ
nhà bác chơi thì phải, vì nó lại là của em gái bác! Còn bộ nhà bác mua của cụ
Thức kể để lại về cho em....
-Kể thế cũng
được! Châu về Hợp Phố... Nhưng để còn bàn với nhà tôi xem sao!
Tưởng đấy chỉ
là câu chuyện làm quà cho vui. Nếu có sự gì thì anh em cũng phải có lời có
tiếng. Đằng này chưa ai kịp bàn bạc thỏa thuận đổi chác gì. Không ngờ lợi dụng
cha mẹ tôi lươm lũ cả ngày ngoài sông Cái Nứa múc bùn, chú Thủy đánh bài nhờ
người khiêng luôn bộ tràng kỷ chấn song con tiện lại đằng nhà tôi và khiêng bộ
tràng kỷ cuốn gỗ liền của nhà tôi về nhà chú. Lúc cha mẹ tôi về thì sự đã rồi.
Mẹ tôi lại mắng: Chẳng ai như chú, nhà tôi đã nói gì đâu mà chú dám đánh đổi...
Chú Thủy xun xoe cười trừ: -Thôi, đường nào cũng là kỷ vật của các cụ. Nay con
cháu các cụ được hưởng, em cũng vậy mà bác cũng vậy! Bác trai bảo em... Châu về
Hợp Phố mà lị. Nghĩa là đồng ý thôi bác!
Vậy là chú
Thủy chiếm luôn được bộ tràng kỷ chăc chắn ấy. Bộ chấn song con tiện chả mấy
năm bị rệu rã, gẫy mộng, hỏng từng bửng gỗ, không thể sửa chữa lại được! Khi
cha sắp mất, các chị tôi hỏi ý kiến cha: Chúng con lại nhà ông Thủy khiêng bộ
tràng kỷ nhà ta về thầy nhé! Cha tôi xua tay: Không được làm thế các con ạ! Của
đi thay người. Mất của còn hơn mất lòng! Chú dùng cũng như nhà mình dùng! Ông
lại đọc câu thơ: Cổ kim vị kiến thiên
niên quốc...
***
Mỗi khi nhà
tôi xảy cơ sự gì từ bên ngoài tác động vào, cha thường ít nói, chỉ thở dài. Ông
lấy những quyển sách ra đọc. Đêm đêm, người ngồi cạnh ngọn đèn con đến tận
khuya. Gà gáy, dậy sớm đun ấm nước cho cha, tôi đã thấy người ngồi xếp bằng
tròn, kê quyển sách lên đọc, tra từng trang từng trang. Nhiều quyển bìa đã bóng
lên như màu sáp ong. Rồi ông kể cho anh em chúng tôi nghe những điển tích ngày
xưa các đời phong kiến trong lịch sử nước ta và bên Tàu. Trần Nhân Tông bỏ kinh
thành lên Yên Tử tu và hóa Phật. Lê Thánh Tông vừa làm vua vừa làm thơ. Vua Trụ
nghe Đắc Kỷ giết chú. Đài Tam Công đổ cây mận tàn. Khổng Tử dạy học trò, Hàn
Tín với bát cơm Xiếu Mẫu, Lưu Bị đi tìm lều tranh... Bao nhiêu điển tích, điển
cố, bao nhiêu nhân vật các triều đại hiện lên. Cha thuộc nhiều thơ Đỗ Phủ, Lý
Bạch, Thôi Hiệu và Nguyễn Du, Tản Đà... Thỉnh thoảng cha lại ngâm nga những câu
thơ theo điệu ngâm cổ: Trăm năm trong cõi
người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau/ Trải qua một cuộc bể dâu... Rồi:
Cho hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt
con người có thân... Giọng cha trầm đục, nghe như tiếng vạc ngang trời rơi
xuống mặt sông đêm trăng sương tỏa. Có thể nói, nói theo cách nói thời nay, cha
tôi là một người nông dân nhưng mang tâm hồn nghệ sĩ.
Nhiều đêm, tôi
trằn trọc khó ngủ với bao câu hỏi: Sao cha không sống thêm nhiều năm nữa nhìn
Đất nước- Đất nước mà ngày xa ấy tổ tiên, cha mẹ nơi đồng ruộng, làng quê từng
đổ mồ hôi, sôi nước mắt và cả máu mới có được những tấc đất, những bờ cỏ, những
mùa thơm? Cả đời thắt lưng buộc bụng, ăn chắt để dành, quả cà mắm cáy, dằng dặc
một nắng hai sương cố công cầu thực… cha mẹ chỉ cốt sắm ruộng tậu trâu, giúp đỡ
người nghèo kẻ hèn “vị cây dây quấn” trong làng, mong sao cuộc sống an lành.
Khi cơ hàn hay lúc giơ tay chạm đỉnh phù vân, hay bị hụt rơi dưới chân thác,
cha vẫn canh cánh nghiệp nông gia, với hương nội gió đồng. Cha đã ôm cả những
gì chịu đựng, nhân hòa, ôm cả đức cao mà về Thiên cổ!
Cha dạy: Chữ
Nhẫn là vàng! Nhưng để chữ ấy thành Vàng thì... không phải dễ dàng gì!
(còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét